Công Ty Cổ Phần Bệnh Viện Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn

Địa chỉ: 60-60A Phan Xích Long, Phường 1, Q.Phú Nhuận, tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam.

ĐT: (028) 3990 2468 E: contactus.saigon@hoanmy.com

Triệu chứng Tê bì trong bệnh lý Nội khoa, Thần Kinh và Cơ Xương Khớp | Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn
Nội thần kinh

Triệu chứng Tê bì trong bệnh lý Nội khoa, Thần Kinh và Cơ Xương Khớp

02-11-2010

I. Tiền Tê Hậu Bại:

Triệu chứng tê bì có nguyên nhân do những tổn thương của dây thần kinh, bắt đầu bằng triệu chứng tê, sau đó sẽ xuất hiện triệu chứng yếu liệt cơ. Khi bị tê bì  nên đi khám bệnh sớm để tránh những biến chứng thần kinh nặng nề có thể dẫn đến yếu liệt cơ.

Tê bì có thể xuất hiện một cách khu trú như tê các ngón cái, trỏ, giữa như trong hội chứng ống cổ tay hoặc tê các ngón út và áp út như trong tổn thương thần kinh Trụ, và người bệnh có thể có thể có các triệu chứng khác kèm theo như đau cứng các khớp bàn tay trước đó trong bệnh lý thấp khớp, hoặc đau mỏi cổ gáy, vai trong chèn ép rể thần kinh cổ,tương tự tê bì có thể xuất hiện ở bàn chân , cẳng chân ,mông đùi…trong các trường hợp chèn ép rể thần kinh thắt lưng – cùng. Tê bì còn có thể gặp trong các bệnh lý toàn thể như trong viêm đa dây thần kinh do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể xuất hiện ở những vùng cục bộ khác của cơ thể như ở đỉnh đầu, một bên đầu, ở ngực lưng hoặc ngay cả quanh bộ phận sinh dục…Tóm lại Tê bì có thể xuất hiện bất cứ vị trí nào trên cơ thể tuỳ theo vị trí phân bố của các dây thần kinh và nguyên nhân gây bệnh

1. Những yếu tố thuận lợi gây ra Tê bì: như những người làm công việc dễ  bị chấn thương, ngay cả những chấn thương nhỏ (vi chấn thương ) lặp đi lặp lại, chẳng hạn những người làm việc văn phòng sử dụng máy vi tính liên tục trong môi trường lạnh (máy lạnh), những người làm công việc khuân vác, n hoặc những người phải sự dụng cổ tay thường xuyên như buôn bán thịt , cá phải chặt thịt, những người nội trợ..hoặc phải cầm nắm những thiết bị rung nặng nề như cầm khoan cắt bê tong, lái máy cày …

- Nhiều bệnh tật có thể gây ra tình trạng Tê bì như :

+  Trong các bệnh lý về cơ xương khớp như thoái hoá cột sống cổ/ cột sống thắt lưng có hay không thoát vị đĩa đệm, viêm các khớp hoặc hội chứng ống cổ tay

+  Những bệnh lý rối loạn chuyển hoá như tiểu đường, tăng mỡ máu, xơ vữa động mạch…

+  Những bệnh lý đa dây thần kinh như do tiểu đường, do nghiện rượu, những bệnh lý nội khoa như nhiễm trùng /siêu vi, do thuốc như Isoniazide, thuốc trừ sâu trong các bệnh lý về gan/ suy thận

+  Trong các bệnh lý thần kinh trung ương như đột quỵ thiếu máu não, bệnh lý tuỷ sống

2. Hỏi bệnh và thăm khám

- Cảm giác bất thường như tê đau, dị cảm ,yếu cơ có từ khi nào? Để bệnh nhân mô tả đặc điểm và phân bố của những triệu chứng, những triệu chứng và dấu hiệu kèm theo, như mất cảm giác và tình trạng yếu liệt

- Hỏi bệnh sử y khoa, bao gổm bệnh lý thần kinh, tim mạch, chuyển hoá, bệnh thận , và những bệnh lý viêm mãn tính , như viêm khớp và bệnh lý lupus

- Chấn thương thần kinh hoặc có bị phẫu thuật hay phương pháp điều trị xâm lấn nào mà nó có thể gây tổn thương thần kinh ngoại biên.

- Bác sĩ sẽ thăm khám tình trạng thần kinh của bệnh nhân

+  Đánh giá tình trạng ý thức và các dây thần kinh sọ

+  Đánh giá sức cơ và phản xạ gân xương ở các chi  bị tê đau: sẽ đánh giá cảm giác sờ, cảm giác đau, nhiệt cảm giác rung và vị trí

+  Bác sĩ cũng để ý đến màu sắc da, nhiệt độ và sờ các mạch máu

- Những câu hỏi tiếp cận thông dụng

+  Dị cảm như tê đau xuất phát từ ngoại vi đi vào hay từ trung ương đi ra (vd tử cổ gáy hay từ lưng hay có tê mặt?)

+  Dị cảm kiểu trung ương hay ngoại biên (có biểu hiện tổn thương thần kinh sọ ? phân bố cảm giác như thế nào? phản xạ gân cơ ra sao, tăng hay giảm? yếu liệt kiểu gốc chi hay ngọn chi ? và các dấu hiệu bệnh lý tháp?...)

- Ta thường gặp những kiểu triệu chứng sau

+  Đau mỏi gáy cổ lan xuống nữa người hoặc kèm theo triệu chứng Tê một bên

+  Tê /dị cảm mặt trong cánh tay lan xuống ngón 4/5 chẳng hạn  khi nằm lâu /để tay chân ở vị trí cố định trong 1 khoảng thời gian nào đó

+  Tê kiểu châm chích, nóng bỏng tứ chi kiểu của bệnh lý viêm đa dây thần kinh trong Tiểu đường, bệnh lý tổn thương đa rễ/ nhiều rễ -dây thần kinh

+  Những bệnh lý tê đau của hội chứng ống cổ tay /dị cảm trong hội chứng hạ can xi máu tiềm ẩn

+  Tê yếu kiểu trung ương kèm theo thay đổi cảm giác, phản xạ và có tổn thương thần kinh sọ và dấu hiệu bệnh lý bó tháp

II. Một số bệnh lý thường gặp

1. Viêm khớp: Những biến đổi về thấp khớp hay viêm xương khớp ở cột sống cổ có thể gây dị cảm ở vùng cổ vùng vai và cánh tay. , cũng như ở cột sống thắt lưng  sẽ gây dị cảm ,tê đau ở cẳng chân và bàn chân.

2. Thoát vị đĩa đệm: Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng hay cổ có thể gây ra Dị cảm xảy ra cấp tính hay từ từ dọc theo đường đi của những dây thần kinh tuỷ sống bị ảnh hưởng.

3. Hội chứng tăng thông khí: Thường được gây ra bởi tình trạng tăng thông khí có thể gây ra tình trạng dị cảm thoáng qua ở bàn tay , bàn chân, và quanh môi, kèm theo là chóng mặt/ thỉu, da xanh, xoắn vặn và yếu cơ, co quắp tay, và loạn nhịp tim.

4. Hạ canxi máu: Tình trạng dị cảm không đối xứng thường xuất hiện ở những ngón tay ngón chân và quanh môi  Những dấu hiệu và triệu chứng khác như yếu cơ và chuột rút; hồi hộp; Tăng phản xạ gân cơ; co quắp tay carpopedal spasm; dấu Chvostek’s and Trousseau’s.

5. Tiểu đường: Bệnh lý thần kinh do tiểu đường có thể gây ra dị cảm với cảm giác nóng bỏng ở bàn tay và cẳng chân, những biểu hiện khác bao gồm mệt mỏi, ăn nhiều, tiểu nhiều, sụt cân.

6. Herpes zoster: Triệu chứng sớm của bệnh nàylà dị cảm ở vùngmà do thần kinh tuỷ sống bị bệnh chi phối. Trong vòng vài ngày vùng da này sẽ biểu hiện ngứa, nối hồng ban, mụn nước kèm theo là cảm giác rát bỏng, đau nhói.

7. Bệnh lý thần kinh ngoại biên: có thể gây ra tình trạng dị cảm ở các chi và bệnh nhân cũng thường biểu hiện tình trạng yếu cơ mà nó có thể dẫn đến liệt mềm và teo cơ; mất cảm giác rung âm thoa; giảm /mất phản xạ gân cơ; đau dây thần kinh; và những thay đổi ở da, như da bị bóng nhẵn, đỏ da trang thái giảm tiết mồ hôi (khô da).

8. Chấn thương thần kinh ngoại biên: Tổn thương những dây thần kinh lớn có thể gây dị cảm thường là Loạn cảm: loạn cảm bất thường không dễ chịu, có thể xảy ra tự phát hay được gây ra bởi một kích thích thường không đau trong vùng do dây thần kinh chi phối. Dị cảm thường xảy ra sau khi chấn thương 1 thời gian ngắn và có thể thường trực. Những triệu chứng khác gồm Liệt mềm hay yếu, giảm phản xạ và có thể mất cảm giác.

9. Cơn thoáng thiếu máu não: Dị cảm thường xảy ra bộc phát trong cơn thoáng thiếu máu não và giới hạn ở 1 tay hay 1 phần riêng biệt nào đó của cơ thể. Nó thường kéo dài kgoảng 10 phút và kèm theo là tình trạng yếu liệt  , suy giảm ý thức, chóng mặt, mất thị lực 1 bên, không nói được, khó nuốt , ù tai, liệt mặt

10. Đột quỵ: Gây dị cảm và thường hơn là mất cảm giác đối bên. Những triệu chứng khác thay đổi tuỳ theo Đông mạch bị ảnh hưởng bao gồm liệt nữa người đối bên, giảm ý thức và bán mánh đồng danh.

11. Tổn thương tuỷ sống: Dị cảm có thể xảy ra trong trường hợp tổn thương cắt ngang tuỷ một phần, sau khi đã qua giai đoạn sốc tuỷ. Nó có thể xảy ra một hoặc hai bên, ngang mức hay bên dưới vị trí tổn thương.

12. U não: Những u não ảnh hưởng đến vùng võ não cảm giác ở thuỳ đính có thể gây ra dị cảm đối bên tiến triển.

13. Chấn thương đầu: Có thể gây ra tình trạng dị cảm một hoặc hai bên , nhưng thường gặp hơn là tình trạng mất cảm giác.

14. Đau đầu Migraine: Dị cảm ở bàn tay, mặt và quanh môi có thể cảnh báo một đau đầu Migraine sắp xảy ra.

Một số nguyên nhân khác

- Xơ cứng rải rác từng đám: Trong bệnh lý này, cơ chế là do sự huỷ myelin ở vùng võ não cảm giác hoặc bó gai đồi thị có thể gây ra Dị cảm—là một trong những triệu chứng sớm nhất điển hình.

- Bệnh dại: Dị cảm, cảm giác lạnh và ngứa ở vị trí bị con vật cắn cảnh báo giai đoạn tiền triệu của bệnh

- Bệnh Raynaud: Sự tiếp xúc với lạnh hay tình trạng căng thẳng làm xanh tái ở các ngón tay, lạnh

- Những bệnh lý động kinh: Những cơn động kinh thuỳ đínhthường gây ra tình trạng dị cảm ở môi, các ngón tay, và ngón chân.

- Nhũng u tủy sống: Gây ra triệu chứng dị cảm , đau và yếu,và mất cảm giác dọc theo dây thần kinhcủa khoanh tuỷ bị tổn thương bởi khối u.

- Ban đỏ hệ thống

- Giang mai sừng sau tuỷ sống: Trong bệnh lý này, Dị cảm đặc biệt ở 2 chân thì thường gặp nhưng trong giai đoạn muộn.

- Chứng hạ canxi máu tiềm ẩn (Latent Tetany): Chứng hạ canxi máu là 1 hội chứng thường gặp: biểu hiện với những dấu hiệu kích thích thần kinh cơ toàn thân bao gồm những triệu chứng Dị cảm, co thắt cơ, co thắt thanh quản, tetany và co giật.

- Bệnh lý thần kinh ngoại biên: Bệnh lý thần kinh ngoại biên thường gây Đau và tê cóng ở bàn tay và bàn chân. Đau thường được mô tả như cảm giác châm chích hoặc nóng bỏng, còn phân bố mất cảm giác giống như đi găng, mang vớ.

BS. HUỲNH VĂN PHỤNG
Chuyên khoa Nội Thần Kinh – BV Hoàn Mỹ Sài Gòn