Công Ty Cổ Phần Bệnh Viện Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn

Địa chỉ: 60-60A Phan Xích Long, Phường 1, Q.Phú Nhuận, tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam.

ĐT: (028) 3990 2468 E: contactus.saigon@hoanmy.com

Thận trọng khi gây tê bằng Lidocain | Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn
Ngoại (Tổng Hợp, Thần Kinh)

Thận trọng khi gây tê bằng Lidocain

13-01-2010
Lidocain không chỉ có tác dụng gây tê, mà còn là thuốc chống loạn nhịp tim. Lidocain làm giảm tính thấm Na ở màng tế bào thần kinh, do đó ổn định màng và ức chế khử cực, kết quả là phong bế sự phát sinh, sự dẫn truyền xung động thần kinh, tạo hiệu ứng gây tê. Hiệu lực gây tê nhanh, mạnh, rộng, dài hơn các thuốc gây tê tại chỗ (như procain) nếu dùng cùng liều.

Lidocain cũng chẹn kênh Na+ làm giảm Na+ nội bào, tạo hiệu ứng chống loạn nhịp trong điều trị cấp tính các loạn nhịp thất (ngoại rung thất, nhịp nhanh thất, rung thất) sau nhồi máu cơ tim hoặc trong thao tác kỹ thuật thăm dò, can thiệp tim mạch, thông tim, nong động mạch vành).

Lidocain có tác dụng phụ cần được chú ý

- Khi gây tê, lidocain phong bế dẫn truyền tại sợi trục thần kinh ở hệ thần kinh ngoại vi, ảnh hưởng đến chức năng của tất cả các cơ quan mà sự dẫn truyền xung động đi tới (thần kinh trung ương, các hạch tự động, khớp thần kinh - cơ, các dạng cơ…), gây nguy hiểm cho các cơ quan này (nhức đầu, hạ huyết áp, khó thở, loạn nhịp tim, block tim, trụy tim mạch, ngủ lịm). Tác dụng phụ này lệ thuộc vào liều dùng.

- Khi điều trị rối loạn nhịp tim, nếu dùng đúng liều, lidocain khá an toàn so với các thuốc khác (như procainamid). Nhưng nếu tiêm tĩnh mạch nhanh, nó có thể gây hội chứng yếu nút xoang, tăng mức block nhĩ - thất có từ trước, đôi khi tăng tần số thất (trên người bệnh có rung nhĩ), tai biến này mất đi sau khi ngừng thuốc; sau khi dùng kéo dài hay khi dùng tiêm tĩnh mạch liều cao (> 150mg) nó có thể gây ra các nhiễm độc: chóng mặt, dị cảm (vùng quanh miệng) buồn nôn, nôn, rối loạn thị giác vật vã, lẫn lộn, rối loạn hô hấp, co giật, giảm sức co bóp cơ tim, nhịp tim chậm, giãn mạch ngoại vi, hạ huyết áp, trụy mạch (thường xảy ra ở người già có suy gan, suy thận, suy tim).

- Trong cả hai trường hợp: Với liều điều trị thông thường, lodocain ít ảnh hưởng đến giao cảm, nhưng nếu liều cao, nó ức chế sự co bóp của cơ tim, giảm nhịp tim, giảm sức cản ngoại vi, hạ huyết áp, nặng hơn là truỵ mạch. Với người mẫn cảm, có thể gây dị ứng viêm da, co thắt phế quản, nặng hơn shock phản vệ (dẫn tới tử vong).

Cũng do các tác dụng phụ này, không được dùng lidocain cho những người có hội chứng Adams - stockes, block nhĩ - thất, rối loạn xoang - nhĩ (ở tất cả các mức độ), suy cơ tim nặng, block trong thất (khi chưa đặt thiết bị tạo nhịp), rối loạn chuyển hoá prophyrin.

Tai biến xảy ra khi gây tê & dự phòng

- Đường dùng, liều lượng gây tê khác với dùng trong điều trị loạn nhịp. Tuy nhiên, trong gây tê, lidocain vẫn gây ra tác dụng phụ trên tim mạch, đặc biệt là khi gây tê sâu và rộng. Do đó, khi dùng cần lưu ý:

+ Trước khi gây tê phải chuẩn bị sẵn các phương tiện cấp cứu nhằm phòng các phản ứng phụ liên quan đến thần kinh, hô hấp, tim mạch.

+ Dùng phối hợp với chất co mạch epinephrin (dung dịch 0,0001%) sẽ kéo dài thời gian gây tê. Nhưng tránh phối hợp này khi gây tê gần ngón tay hay qui đầu vì có thể gây hoại tử.

+ Không được tiêm vào mạch. Khi tiêm để gây tê, phải kiểm tra để phòng tiêm lạc vào mạch. Nếu tiêm thuốc lạc vào mạch, dễ gây ra các tác dụng phụ trên tim mạch.

+ Tiêm vào mạch, dưới nhện vùng đầu, cổ, hậu nhãn cầu, quanh chân răng… dễ gây nguy cơ ngừng hô hấp. Khi dùng lidocain phong bế ngoài màng cứng, vùng dưới nhện dễ gây nguy cơ hạ huyết áp, chậm nhịp tim. Cần có sẵn dịch truyền, thuốc vận mạch, oxy cấp cứu kịp thời.

+ Phong bế ở giao cảm, lidocain có thể gây tụt huyết áp mạnh, chậm nhịp tim. Nếu dùng, phải làm liều kiểm tra (test dose).

+ Lidocain làm giảm đau trong sản khoa, ít tác dụng phụ. Tuy nhiên, khi phong bế cạnh cổ tử cung có thể gây chậm nhịp tim thai, liều cao có thể gây chết thai.

+ Lidocain có phản ứng với kim loại, gây kích ứng nặng chỗ tiêm, tránh để tiếp xúc lâu với kim loại (kể cả kim loại ở trên ống tiêm).

+ Phải giảm liều với người cao tuổi, người mất sức, người bị bệnh cấp tính, người có tình trạng sinh lý và thần kinh bất thường. Thận trọng với người tăng thân nhiệt ác tính di truyền.

+ Liều quy định không được vượt quá 3mg/kg và phụ thuộc vào phương thức gây tê. Liều gây độc lệ thuộc vào từng người, phụ thuộc vào chỉ định và thủ thuật tiến hành gây tê. Khi dùng gây tê, nếu tiêm nhầm vào khoang dưới nhện và nếu nồng độ trong huyết tương cao thì sẽ bị nhiễm độc do quá liều (bồn chồn, lo lắng, nhìn mờ, run, ngủ gà, co giật, mất ý thức, có thể ngừng thở, hạ huyết áp, ngừng tim)

DS. BÙI VĂN UY
Theo Thuốc&Sức Khoẻ số 385