Công Ty Cổ Phần Bệnh Viện Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn

Địa chỉ: 60-60A Phan Xích Long, Phường 1, Q.Phú Nhuận, tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam.

ĐT: (028) 3990 2468 E: contactus.saigon@hoanmy.com

Rò túi mật - đại tràng: Một tình trạng khó chẩn đoán trước mổ | Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn
Khoa Tiêu Hóa

Rò túi mật - đại tràng: Một tình trạng khó chẩn đoán trước mổ

16-03-2012

Rò túi mật-đại tràng là một tình trạng rò mật-ruột có thể biểu hiện về mặt lâm sàng dưới nhiều hình thức. Dù đã có những công cụ chẩn đoán hiện đại, vẫn cần phải có thái độ hoài nghi cao để chẩn đoán được tình trạng này trước lúc mổ.

- Rò mật ruột gặp ở 0,9% bệnh nhân được phẫu thuật ở đường mật.

- Các vị trí rò thường gặp nhất là:

+ Rò túi mật-tá tràng (70%)

+ Rò túi mật-đại tràng (10-20%), và hiếm gặp nhất là

+ Rò túi mật-dạ dày, bao gồm các trường hợp còn lại.

- Các đường rò này thường được điều trị bằng phẫu thuật hở hoặc phẫu thuật nội soi. Không có sự khác biệt nhiều về mức độ biến chứng trong và sau mổ giữa 2 phương pháp phẫu thuật.

- Rò mật ruột tự phát hiếm khi được báo cáo. Thật vậy, đa số các trường hợp rò đều là biến chứng của bệnh sỏi túi mật. Một chuỗi biến cố đã xảy ra trong viêm túi mật cấp do sỏi. Trong những đợt viêm cấp này, lớp thanh mạc kề cận bị viêm và dính với túi mật. Vùng thiếu máu ở thành túi mật bị hoại tử, và do áp lực trong túi mật tăng, trước tiên các chất chứa trong túi mật xuyên thấu qua thành túi mật bị hoại tử, rồi sau đó là xuyên qua thành đại tràng kề cận, tạo ra đường rò túi mật-đại tràng.

- Một nguyên nhân khác là hoại tử do tì đè của một viên sỏi mật, thường là ở cổ túi mật, gây bào mòn dần và xuyên thành vào đại tràng.

- Rò túi mật - đại tràng tự phát bao gồm 10-20% tất cả các trường hợp rò mật-ruột. Đa số thường là di chứng của viêm túi mật, nhưng chỉ được báo cáo gây biến chứng trong 0,13% trường hợp mà thôi. Tuy nhiên, rò mật-ruột cũng gặp ở bệnh Crohn's, bệnh viêm loét đại tràng, chấn thương bụng, và các trường hợp ung thư đường mật, ung thư ruột, và ung thư đầu tụy.

- Bệnh nhân rò mật - ruột có thể có các triệu chứng đau bụng, buồn nôn, sụt cân, tiêu chảy, và khó tiêu. Rò có thể làm thay đổi chu kỳ gan-ruột bình thường của các acids mật, dẫn đến việc giảm tái hấp thu chúng. Các acids mật còn trực tiếp kích thích niêm mạc đại tràng gây ra bài tiết quá mức nước và các chất điện giải dẫn đến tiêu phân mỡ và tiêu chảy. Một số trường hợp sỏi kẹt ở vùng đại tràng sigma-trực tràng dẫn đến tắc đại tràng do đường rò tùi mật-đại tràng hiếm gặp đã được báo cáo.

- Nếu được phát hiện tình cờ khi phẫu thuật bụng, các đường rò này cần được loại bỏ vì làm tăng nguy cơ viêm túi mật và viêm đường mật, cùng với 15% nguy cơ ung thư túi mật. 

- Các kỹ thuật hiệu quả nhất để chẩn đoán rò túi mật đại tràng là chụp phim bụng đứng, siêu âm bụng, chụp cản quang với barium, chụp scintigraphy đường mật, ERCP và MSCT bụng. Mặc dù chẩn đoán rò túi mật-đại tràng ít khi được nghĩ đến về mặt lâm sàng, nó cần được xem xét ở những bệnh nhân lớn tuổi có tình trạng nhiều hơi bất thường trong đường mật (pneumobilia) không giải thích được, hoặc tiêu chảy kéo dài nguyên nhân không rõ.

ERCP cho thấy chất cản quang đi từ túi mật sang đại tràng, do rò túi mật-đại tràng.

- ERCP có thể giúp thiết lập chẩn đoán, đặc biệt sau khi chụp cản quang với barium cho kết quả âm tính.

- Điều trị chuẩn đối với rò túi mật-đại tràng là mổ mở cắt túi mật và đóng đường rò. Tuy nhiên, các tiến bộ trong phẫu thuật nội soi gần đây đã cho thấy tiềm năng của chúng trong việc điều trị các đường rò ít gặp này. Các kỹ thuật tương tự với mổ mở đã được áp dụng trong phẫu thuật nội soi. Kết quả cho thấy không có khác biệt đáng kể nào về mặt biến chứng trong và sau mổ.

Mặc dù phẫu thuật là phương pháp điều trị được chọn lựa, cắt cơ vòng nội soi (ES) và lấy sỏi ống mật chủ đã được báo cáo có thể giúp đường rò tự lành bằng cách làm giảm áp suất trong đường mật. Phương pháp này được dùng cho những bệnh nhân lớn tuổi có nguy cơ cao khi phẫu thuật.

BS. ĐỒNG NGỌC KHANH - BV Hoàn Mỹ Sài Gòn