Công Ty Cổ Phần Bệnh Viện Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn

Địa chỉ: 60-60A Phan Xích Long, Phường 1, Q.Phú Nhuận, tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam.

ĐT: (028) 3990 2468 E: contactus.saigon@hoanmy.com

Phương pháp hóa trị ra đời như thế nào? | Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Phương pháp hóa trị ra đời như thế nào?

17-05-2012

Ung thư là một trong những căn bệnh nan y diễn biến nhanh và gây ra tỷ lệ tử vong cao trên khắp thế giới. Sự ra đời của những phương pháp điều trị ung thư mặc dù chưa thể tiêu diệt tận gốc căn bệnh nguy hiểm này, song đã phần nào hạn chế được tỷ lệ tử vong và kéo dài thời gian, nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. 

Nhắc đến các phương pháp điều trị bệnh ung thư, không thể không nhắc đến TS. Sidney Farber - người được mệnh danh là cha đẻ của phương pháp hóa trị được ứng dụng chủ yếu trong điều trị ung thư ngày nay. Sidney Farber sinh năm 1903, mất năm 1973, là một chuyên gia nghiên cứu bệnh lý học người Mỹ. Ông sinh tại Buffalo, New York, Mỹ và là anh cả trong một gia đình có tới 14 anh chị em. Những năm đầu đại học, Farber theo học tại Trường đại học y Heidelberg và Freiburg, Đức. Ông tốt nghiệp khóa đào tạo chuyên ngành bệnh lý học tại Bệnh viện Peter Bent Brigham, Boston, Massachusetts, Mỹ và trở thành bác sĩ tại một bệnh viện nhi. Năm 1928, Farber làm trợ lý tại Khoa bệnh lý Trường đại học tổng hợp Harvard, đồng thời tham gia công việc của một bác sĩ tại viện nhi.

Trong thời gian làm việc tại Harvard, Farber đã tiến hành nghiên cứu cho Hiệp hội Ung thư Mỹ. Ông đã tiến hành nhiều thí nghiệm và hoàn thiện lý thuyết về định lượng lâm sàng hóa chất aminopterin - một hóa chất được dùng để điều trị bệnh bạch cầu ở trẻ em. Những thử nghiệm lâm sàng của Farber sau đó đã thu được thành công. Thời kỳ đó, ông được mệnh danh là cha đẻ của ngành bệnh lý học hiện đại. Không dừng lại ở đó, TS. Sidney Farber đã tiếp tục đi sâu nghiên cứu căn bệnh ung thư vào năm 1947 và viện nghiên cứu ung thư mang tên Dana – Farber sau này chính là công trình được đặt theo tên để tưởng nhớ đến Farber – một trong những người đầu tiên mở rộng vấn đề nghiên cứu bệnh ung thư lên tầm cỡ quốc gia.

Phương pháp hóa trị ra đời như thế nào?

- Phương pháp hóa trị được ứng dụng trong điều trị ung thư lần đầu tiên vào năm 1940. Khi đó, người ta sử dụng hỗn hợp nitrogen và loại thuốc đối kháng acid folic. Thuốc điều trị ung thư được phát triển sau đó và biến ngành sản xuất thuốc thành ngành công nghiệp triệu đô. Tuy nhiên sau đó, người ta đã phát hiện ra rằng hóa trị không trị được vĩnh viễn bệnh ung thư mà chỉ có tác dụng kéo dài thời gian sống cho người bệnh và điều trị khỏi cho một số ít. 

- Những nỗ lực đầu tiên sử dụng hóa trị trong điều trị ung thư diễn ra từ năm 1940 - 1952. Hai nhà dược học là Louis S. Goodman và Alfred Gilman được giao nhiệm vụ nghiên cứu phương pháp và loại thuốc điều trị ung thư đang là vấn đề nan giải đối với xã hội. Một năm làm việc của họ bắt đầu với việc nghiên cứu về những hiện tượng diễn ra trong cuộc không kích của Đức vào Bari, Italia khiến hàng nghìn nạn nhân trong cuộc không kích đó bị ảnh hưởng bởi việc tiếp xúc với bom khí gas.

- Khi đó, TS. Stewart Francis Alexander – một chuyên gia trong lĩnh vực hóa chất đồng thời là một đại tá quân đội đã yêu cầu các nhà khoa học điều tra về hậu quả tác động của chất hóa học sau cuộc không kích. Kết quả thu được là rất nhiều nạn nhân được phát hiện mắc bệnh lymphoid và bệnh về tủy sống – myeloid do tiếp xúc với khí độc. Cũng trong cuộc điều tra này, TS. Alexander phát hiện ra rằng hỗn hợp khí gas do cuộc không kích gây ra dù gây độc song cũng làm dừng quá trình phân chia của tế bào somatic (somatic cells) – vốn là loại tế bào phân chia rất nhanh trong điều kiện tự nhiên và là nguyên nhân khiến tế bào ung thư phát triển mạnh.

Như vậy, có thể nói, họ đã tìm ra manh mối dẫn tới phương pháp hóa trị.  Ngay sau đó, TS. Goodman và Gilman đã đưa ra ý tưởng sử dụng hỗn hợp khí gas để điều trị bệnh ung thư tế bào lymphoid hay còn gọi là lymphoma. Thí nghiệm đầu tiên trên chuột và một số động vật thí nghiệm đã cho kết quả tốt. Tiếp đến, họ sử dụng phương pháp hóa trị này cho những bệnh nhân sau khi phẫu thuật loại bỏ khối u ung thư và cũng cho thấy tác dụng làm giảm tỷ lệ di căn khối u ung thư. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở đó, phương pháp này không mang lại hiệu quả nhiều, thậm chí gây ngộ độc cho bệnh nhân và còn đe dọa tới tính mạng của họ. Chỉ tới khi nghiên cứu của TS. Farber chỉ ra rằng việc điều trị ung thư bằng tác động dược lý là có thể, ông đã mở ra một hướng đi mới cho hóa trị trong điều trị ung thư.

Hướng đi mới cho hóa trị điều trị ung thư

- Chỉ một thời gian ngắn sau Thế chiến thứ 2, cuộc tiếp cận khoa học thứ hai với bệnh ung thư bắt đầu. TS. Sidney Farber là người đứng đầu nghiên cứu này tại Trường đại học Harvard, Mỹ. Khi đó, Farber tập trung nghiên cứu vào tác động của axid folic đối với bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu – leukemia. Và đây mới là hướng đi đúng đắn. Như đã biết, axid folic là loại vitamin thiết yếu cho quá trình trao đổi chất trong cơ thể, tất nhiên nó tác động đến quá trình trao đổi chất mang tính di truyền trong các DNA (khi đó, khoa học chưa biết đến sự liên quan của ung thư với DNA).

- Quá trình điều trị thử nghiệm đối với chuột mắc bệnh bạch cầu đã cho kết quả: axid folic đã kích thích sự tăng nhanh của các tế bào bạch cầu bệnh ở những con chuột bị bệnh ung thư tủy sống. Sau đó, TS. Farber tiến hành thí nghiệm ngược lại, ông sử dụng hóa chất tương tự như folate, đầu tiên là aminopterin và amethopterin (methotrexate) là những chất kháng axid folic và có tác dụng khoá chức năng của một số enzymes (chỉ hoạt động khi được cung cấp axid folic).

- Thật rõ ràng: chất  kháng axid folic - antifolate có thể kiềm chế sự nhân lên và phát triển của các tế bào ác tính, đồng thời tạo điều kiện để tái cấu trúc lại chức năng của tủy sống. Tại phòng thí nghiệm Lederle, cùng với các đồng nghiệp của mình là Harriett Kilte và Yallapragada Subbarao, TS. Farber đã tìm ra cách trị liệu ung thư đầu tiên vào năm 1948. Và phương pháp hóa trị đó của ông đã giúp đẩy lùi quan niệm ung thư tủy sống là bệnh không thể chữa khỏi.

- Không dừng ở đó, tại Trung tâm nghiên cứu ung thư New York, Mỹ, Farber cùng các đồng nghiệp tiếp tục nghiên cứu và tìm ra nhiều hóa chất khác như methotrexate, 6-mercatopurine... cũng có tác dụng chống lại ung thư tương tự. Nghiên cứu này của Farber đã mở đường cho hai nhà khoa học sau này là James Holland và Emil Freireich hoàn thiện liệu pháp hóa trị với sự góp mặt của nhiều loại hóa chất kết hợp hay còn gọi là liệu pháp hóa trị kết hợp.

LÊ HUY (Theo The medical/SK&ĐS)