Công Ty Cổ Phần Bệnh Viện Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn

Địa chỉ: 60-60A Phan Xích Long, Phường 1, Q.Phú Nhuận, tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam.

ĐT: (028) 3990 2468 E: contactus.saigon@hoanmy.com

Mộng thịt ở mắt và các phương pháp điều trị hiện nay | Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn
Khoa Khám Bệnh

Mộng thịt ở mắt và các phương pháp điều trị hiện nay

16-06-2011

Mộng thịt là sự tăng sinh kết mạc nhãn cầu ở góc trong hoặc góc ngoài mắt từ rìa hướng vào trung tâm giác mạc. Bệnh có thể tiến triển chậm trong nhiều năm hoặc tiến triển rất nhanh xâm lấn qua vùng rìa giác mạc và tiến vào vùng trung tâm giác mạc (đồng tử) làm giảm thị lực. Phần mộng thịt nhô lên có thể phá hủy màng phim nước mắt gây cảm giác kích thích, xốn cộm, chảy nước mắt sống và tổn thương biểu mô giác mạc.

1. Nguyên nhân gây bệnh

Hiện có rất nhiều giả thuyết về nguyên nhân và cơ chế gây bệnh  mộng thịt, trong đó có thuyết về vi chấn thương, về tia cực tím, về sự rối loạn tế bào mầm ở vùng rìa ...song chưa có giả thuyết nào tỏ ra thuyết phục hoàn toàn. Những nghiên cứu sinh học phân tử gần đây cho rằng gen p53 có liên quan đến việc hình thành khối u cũng như hình thành mộng.

* Các mộng thịt gồm 4 phần chính:
- Lưỡi trai trước đầu mộng có màu xám nhạt, hình cung tròn dính với giác mạc không chặt.
- Đầu mộng thịt có hình tròn hoặc hơi nhọn, gồ cao trên giác mạc và là nơi kết thúc các mạch máu thân mộng. Nó dính chặt, không di động.
- Cổ mộng là phần kết mạc chuyển tiếp giữa giác mạc và kết mạc nhãn cầu, dính chặt vào vùng rìa.
- Thân mộng trãi dài từ vùng rìa tới nếp bán nguyệt (mộng góc trong) hoặc đến góc mi ngoài (mộng góc ngoài). Thân mộng có thể dày hoặc mỏng tùy theo tổ chức xơ bên dưới tăng sinh nhiều hay ít, màu sắc đỏ hoặc hồng nhạt tùy theo độ cương tụ của mạch máu thân mộng.
* Phân loại mộng: Theo Cornand (1989) phân ra làm 3 độ:
- Độ I: Mộng vượt quá rìa 1-2mm, đầu mộng gồ lên trên giác mạc, thân mộng không dày, chứa vài mạch máu chạy theo hướng vào giác mạc.
- Độ II: Mộng đang ở hình thái hoạt động, đầu mộng xâm lấn vào giác mạc 2-4mm, có thể thấy đảo Fuchs, thân mộng dày nhiều mạch máu giãn.
- Độ III: Là hình thái tiến triển của mộng, đầu mộng xâm lấn quá rìa 4mm vào giác mạc gây ảnh hưởng tới thị lực, thân mộng dày đỏ, mạch máu dày đỏ và giãn rộng.

2. Triệu chứng lâm sàng
Khi mộng thịt ở độ I: ít gây ra các triệu chứng chủ quan khó chịu.

Độ II và III: mộng thịt gây cộm đỏ khó chịu ở mắt, gây giảm thị lực và loạn thị.
- Các triệu chứng ở mắt như nóng rát ở trong mắt, sợ ánh sáng khi tiếp xúc với các tác nhân lạnh hay nóng, hoặc như có cảm giác có dị vật ở trong mắt, chảy nước mắt.

- Các triệu chứng này tăng lên  khi mộng thịt ở giai đoạn viêm nhiễm, đi kèm với các kích thích đau bởi các loét nhỏ ở trên giác mạc xung quanh đầu mộng. Mộng thịt có thể gây mờ đục giác mạc chu biên, làm thay đổi film nước mắt và co kéo cũng làm hạn chế vận nhãn.

Chẩn đoán xác định
- Mộng thịt nguyên phát là mộng chưa mổ lần nào, xuất hiện ở vùng khe mi vị trí 3h và 9h. Đó là một khối tăng sinh hình tam giác và luôn phát triển đi về hướng giác mạc. Mộng thịt dính chặt vào giác mạc theo suốt chiều dài của nó và dính chặt nhất là ở đầu mộng. Điều này cũng dễ chẩn đoán phân biệt với mộng giả.
- Mộng thịt tái phát: sau phẫu thuật một hoặc nhiều lần. Đó là sự tăng sinh mô sợi dưới kết mạc và dính chặt vào các mô liên kết. Nó khác biệt với quá trình thoái hoá trong mộng nguyên phát.
- Chẩn đoán phân biệt: Mộng mỡ, mộng giả; Viêm kết giác mạc với các bọng nước nhỏ, viêm thượng củng mạc; Ung thư tế bào vẩy ở vùng rì; U Lympho, u dạng bì vùng rìa, u nhú, u biểu mô Bowman….

3. Phương pháp điều trị Mộng thịt
- Điều trị nội khoa không có hiệu quả về thực thể đối với mộng thịt, chỉ làm giảm triệu chứng trong những đợt viêm kích thích mà phẫu thuật là cần thiết.
- Phẫu thuật mộng thịt có nhiều phương pháp khác nhau nhưng chưa có phương pháp nào thực sự hoàn hảo như cắt mộng đơn thuần hoặc di chuyển hướng đi của mộng, cắt mộng có ghép kết mạc hoặc giác mạc lớp, cắt mộng có kết hợp áp thuốc chống chuyển hóa (như Thiothepa, 5FU, Mytomycin C). Trong đó, phương pháp cắt mộng có ghép mảnh kết mạc tự thân tỏ ra có hiệu quả, làm giảm tỷ lệ tái phát và được ưa chuộng hơn cả. Kỹ thuật ghép kết mạc tự thân theo tác giả Kenyon tỷ lệ tái phát là 5,3%. Kỹ thuật ghép màng ối: 10% đối với mộng nguyên phát, 37% đối với mộng tái phát. Kỹ thuật để trần củng mạc có tỷ lệ tái phát là 61% đối với mộng nguyên phát và 82% đối với mộng tái phát.
* Tìm hiểu về Phẫu thuật ghép kết mạc tự thân: Phẫu thuật ghép kết mạc tự thân là một dạng của ghép bề mặt ngoài nhãn cầu nhờ một mảnh ghép kết mạc rời lấy từ kết mạc nhãn cầu phía thái dương trên và khâu đính vào củng mạc ở vị trí vừa cắt bỏ mộng thịt. Ghép kết mạc tự thân đầu tiên được sử dụng cho mộng thịt tiến triến triển và tái phát, nhưng bây giờ nó đã được chấp nhận trở thành một phương pháp chọn lựa cho điều trị mộng thịt nguyên phát. Năm 1985, Kenyon đã đề nghị áp dụng kỹ thuật ghép kết mạc tự thân cho những mộng thịt tiến triển và tái phát, bây giờ nó được xem như là một tiêu chuẩn vàng để làm chuẩn cho các phương pháp khác.

4. Phòng bệnh:  Tránh tiếp xúc với các môi trường kích thích như gió, bụi, khói, cát, tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời. Dùng kính, mũ, nón khi ra ngoài để cản bớt ánh nắng và tránh tiếp xúc trực tiếp với tia tử ngoại, sẽ hạn chế tỷ lệ mắc bệnh. Theo Cameron (1964) tại Úc tỷ lệ mắc bệnh giảm từ 15% đến 30% ở những người đeo kính thường xuyên trước 15 tuổi.

BS. NGUYỄN HUY HOÀNG – BV Hoàn Mỹ Đà Nẵng

Tài liệu tham khảo
1.     Bộ môn mắt trường ĐHY Hà Nội (2005), “Kết mạc”, Bài giảng nhãn khoa bán phần trước nhãn cầu, NXB Y học, tr. 21 – 30, 83-91.
2.     Bộ môn mắt trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh (2007), “Mộng thịt”, Nhãn khoa lâm sàng, NXB Y học,  tr. 74 – 86.
3.     Phan Dẫn (2007), “Giải phẫu đại thể cơ quan thị giác”, Nhãn khoa giãn yếu, NXB Y học, tập 1, tr. 17– 24, 109-145.
4.     Nguyễn Xuân Nguyên (1996), “Kết mạc”, Giải phẫu mắt ứng dụng trong lâm sàng và sinh lý thị giác, tr. 46 – 50.
5. Viện mắt Hà nội (1996), “Điều tra dịch tể học mù lòa và một số bệnh mắt”, Công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ, tr. 109-111.
6. Donald T.H. Tan (2000), “Ocular Surface Transplantation Techiques For Pterygium Surgery”,  Pterygium surgery, pp. 125-141.
7.1Donald TH TAN, Sao-Bing LEE, Jessica Marie ABANO (2006), “Pterygium”, Clinical Opthalmology-An Asian Perspective, 3(2),       pp. 207-216.
8.     Jack J. Kanski (2005), “Degenerations”, Clinical Ophthalmology, pp.82 -94.
9.     Lucico Buratto, Robert L.Phillips and Giuseppe Carito (2000), Pterygium surgery, pp. 33-36, 46-80.