Công Ty Cổ Phần Bệnh Viện Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn

Địa chỉ: 60-60A Phan Xích Long, Phường 1, Q.Phú Nhuận, tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam.

ĐT: (028) 3990 2468 E: contactus.saigon@hoanmy.com

Kiểm soát hiệu lực chống đông bằng xét nghiệm INR khi dùng thuốc acenocoumarol | Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn
Nội Tổng hợp

Kiểm soát hiệu lực chống đông bằng xét nghiệm INR khi dùng thuốc acenocoumarol

31-01-2012

1. Sơ lược tính chất dược lực học và dược động học của acenocoumarol:

Acenocoumarol, dẫn xuất của coumarin, thuốc chống đông máu gián tiếp tác dụng theo cơ chế đối kháng với vitamin K, ngăn cản tổng hợp dạng hoạt tính của nhiều yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K như  yếu tố II, VII, IX, X và protein C và S.

- Sau khi uống acenocoumarol, tác dụng giảm prothrombine xãy ra sau 36-72 giờ. Thời gian bán thải của các yếu tố đông máu phụ thuộc vào vitamin K thay đổi từ 6 giờ (yếu tố VII, protein C) đến 2 – 3 ngày (yếu tố II, X). Vì thế, sự cân bằng điều trị chỉ đạt được sau 2-4 ngày dùng thuốc. Sau khi ngừng thuốc, tác dụng chống đông vẫn còn kéo dài trong 2-3 ngày.

- Biệt dược thường được dùng là SINTROMR, hàm lượng 1 mg hoặc 4 mg. Thuốc được hấp thu tốt đường tiêu hóa. Có thể uống trước hoặc sau khi ăn. Nên uống sau khi ăn nếu thấy khó chịu ở dạ dày. Trong máu, thuốc gắn kết cao với albumin huyết tương (tỷ lệ liên kết đến 97%). Chỉ khi ở dạng tự do, thuốc mới có hoạt tính. Vì vậy, acenocoumarol tương tác rất mạnh với nhiều thuốc khác. Tỷ lệ thuốc dạng tự do có thể bị tăng lên và sự chuyển hóa qua gan có thể tăng mạnh do các chất cảm ứng men CYP450.

Thời gian bán thải của acenocoumarol khoảng 8 giờ. Thải trừ qua nước tiểu nguyên dạng hoặc dạng chất chuyển hóa không hoạt tính. Thuốc đi qua nhau thai và vào sữa mẹ.

2. Kiểm soát hiệu lực chống đông của acenocoumarol bằng xét nghiệm INR:
- INR (International Normalized Ratio) là một cách biểu thị thời gian đông máu (TQ: Temps de Quick), nhưng đã loại trừ các yếu tố sai biệt giữa các phòng thí nghiệm khác nhau. Giá trị INR được dùng để kiểm tra hiệu quả chống đông máu của thuốc kháng vitamin K tốt hơn khi dùng giá trị tỷ prothrombine (TP).
- Ở người bình thường, INR nằm trong giới hạn từ 0,8 – 1,2.
- Đa số trường hợp, khi dùng thuốc chống đông máu, giá trị INR cần đạt được trong khoảng từ 2 – 3, lý tưởng nhất là 2,5.
+ Nếu INR < 2 : tác dụng chống đông không đủ
+ Nếu INR > 3 : tác dụng chống đông quá mức.
- Tuy nhiên ở một số trường hợp cụ thể, giá trị INR khuyến cáo có thể lên đến 4,5 (xem bảng 1)
• Trong mọi trường hợp khi INR > 5, đều đi kèm với nguy cơ chảy máu cao.
- Nhịp kiểm tra INR:
+ Kiểm tra lần đầu tiên : được thực hiện ngay trong vòng 48 giờ +/- 12, sau khi uống liều thuốc đầu tiên, để phát hiện sự nhạy cảm quá mức của từng cơ địa bệnh nhân với thuốc. Nếu INR > 2 chứng tỏ quá liều và phải giảm liều.
+ Kiểm tra lần thứ hai : thực hiện tùy theo kết quả của INR lần đầu, để đánh giá hiệu quả chống đông. Tùy trường hợp được thực hiện ở ngày thứ 3 đến ngày thứ 6 sau lần dùng thuốc đầu tiên.
+ Kiểm tra tiếp sau đó : được thực hiện mỗi 2 – 4 ngày cho đến khi có được INR ổn định, sau đó thực hiện mỗi tuần, mỗi hai tuần và tối đa là mỗi tháng một lần. Có khi, cần mất nhiều tuần mới đạt được INR cân bằng.
+ Trong trường hợp thay đổi liều : phải thực hiện kiểm tra mỗi 2 đến 4 ngày sau đổi liều và lập lại kiểm tra  mỗi 4 đến 8 ngày cho đến khi INR ổn định.
- Các kết quả kiểm tra INR phải được ghi trong sổ theo dõi điều trị của bệnh nhân.

 

Chú thích:
*: yếu tố nguy cơ: tiền sử thiếu máu não, cao huyết áp, suy tim, đái đường, hẹp van 2 lá. Nếu không có yếu tố nguy cơ, ở người dưới 65 tuổi khuyến cáo dùng aspirin hơn là acenocoumarol.
**: chỉ dùng sau khi đã đánh giá kỹ tỷ lệ “lợi ích/nguy cơ”
***: điều trị kéo dài nếu nguy cơ thuyên tắc huyết khối (do các bất thường về đông máu, huyết khối tái phát, ung thư đang tiến triển)

Ths.DS. NGUYỄN THỊ THU BA
Trưởng Bộ phận Dược - Tập đoàn Y Khoa Hoàn Mỹ

Tài liệu tham khảo
1. DOROSZ Ph., D. Vital Durand, C. Le Jeunne. Guide Pratique Des Médicaments. Maloine, 30e Edition- 2011, P. 1016-1017.
2. Dictionnaire VIDAL-2007
3. Bộ Y Tế. Dược thư Quốc Gia Việt Nam, Lần xuất bản thứ nhất- Bản bổ sung- Hà Nội 2007.