Công Ty Cổ Phần Bệnh Viện Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn

Địa chỉ: 60-60A Phan Xích Long, Phường 1, Q.Phú Nhuận, tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam.

ĐT: (028) 3990 2468 E: contactus.saigon@hoanmy.com

Điện thế gợi trong thần kinh học và các bệnh liên quan | Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn
Nội thần kinh

Điện thế gợi trong thần kinh học và các bệnh liên quan

16-11-2011

I. ĐIỆN THẾ GỢI (evoked potential- evoked response):

Là sóng ghi được sau một kích thích dành riêng cho những đáp ứng ghi được từ hệ thần kinh trung ương hoặc có được nhờ vào kích  thích hệ thần kinh trung ương. Trước kia Eps rất được coi trọng tuy nhiên hiên nay vai trò bị thu hẹp lại nhiều do sự xuất hiện của MRI. Tuy nhiên giữa MRI và Eps vẫn có sự khác biệt rất cơ bản. MRI cho ta thông tin về cấu trúc giải phẫu còn Eps cho thông tin về chức năng các đường dẫn truyền trong não. MRI tốn tiền và khó làm đi làm lại nhiều lần, không làm tại giường bệnh được. Eps rẻ hơn và có thể lặp đi lặp lại nhiều lần, có thể thực hiện ngay tại giường bệnh.

Các loại điện thế gợi hay thực hiện trong lâm sàng là:

  • Điện thế gợi thính giác thân não- Brainstem Auditory Evoked potentials (BAEPs)
  • Điện thế gợi thị giác- Visual Evoked Potentials (VEPs)
  • Điện thế gợi cảm giác thân thể-Somatosensory Evoked Potentials (SEPs)
  • Điện thế gợi vận động- Moto Evoked Potentials (MEPs)
  • Điện thế gợi của trí tuệ- Cognitive Evoked Potentials) với tên gọi riêng là P300

1- ĐIỆN THẾ GỢI CẢM GIÁC THÂN THỂ- SEP

Phương pháp ghi SEP có được bằng cách kích thích các sợi hướng tâm của cơ và các sợi hướng tâm của da. SEP được dẫn truyền bên trong tủy sống chủ yếu là qua các cột sau (dorsal column), và hệ dải (lemniscal system). ở người tổn thương về chức năng của cột sau thì hầu như bao giờ cũng gây ra những bất thường đa dạng của SEP.

* Ứng dụng của SEPs

1.1. Hệ thần kinh ngoại biên: SEPs giúp kiểm tra hệ thần kinh ngoại biên, khi vị trí bệnh lý ở quá gần gốc, trong vết thương đám rối cánh tay bị đứt rễ thì vẫn còn điện thế cảm giác ngoại biên (SNAP), mặc dù trên lâm sàng bệnh nhân bị mất cảm giác. Ghi SEPs trên sọ và cột sống khi kích thích dây thần kinh ở tay sẽ giúp ổn định khu tổn thương, vì có suy giảm N13.

1.2. Thần kinh trung ương: MRI có ý nghĩa quyết định nhưng SEPs cũng có giá trị bổ sung. Bất thường của SEPs giúp phát hiện một tổn thương đường cảm giác trung ương, dù có biểu hiện lâm sàng hay không. Do vậy nếu lâm sàng cho thấy ổ tổn thương nằm ngoài đường dẫn truyền của SEP mà ghi SEP bất thường thì chứng tỏ bệnh nhân bị tổn thương nhiều ổ. Ngoài ra SEPs bất thường chứng minh rằng bệnh nhân có rối loạn cảm giác thật sự, dù khám lâm sàng không rõ  có rối loạn cảm giác lắm. người ta thường ghi SEPs cho bệnh nhân nghi có bệnh xơ rải rác (MS), rối loạn chức năng tủy sống, các tổn thương thân não, các tổn thương đồi thị, tổn thương bán cầu, hôn mê, chết não.

1.3. Theo dõi trong mổ: Đặc biệt trong mổ bóc lớp áo trong của động mạch cảnh (Endarterectomies) và phẫu thuật cột sống. Theo dõi SEPs trực tiếp trong lúc đang phẫu thuật cho phép tránh được các tổ thương do chính phẫu thuật gây ra, khi vẫn còn có thể sửa sai kịp.

2 - ĐIỆN THẾ GỢI THÍNH GIÁC THÂN NÃO- BAEP

Phương pháp BAEP đo lường chức năng của dây thần kinh thính giác và đường dẫn truyền thính giác ở trong thân não.

* Ứng dụng của BAEPs:

2.1. Đánh giá mức độ điếc của bệnh nhân. Ở trẻ em dưới 2 tuổi có vấn đề về ngôn ngữ, BAEP giúp xác định xem dùng máy khuếch đại âm thanh có giúp cải thiện ngôn ngữ không.

2.2. BAEP có thể dùng trong chẩn đoán hôn mê do ngộ độc thuốc, phân biệt với hôn mê do tổn thương giải phẩu thân não. Trên bệnh nhân hôn mê, nếu không ghi được BAEP thì hầu như chắc chắn sẽ chết, trên bệnh nhân chết não người ta thấy hoặc là không ghi được BAEP hoặc chỉ ghi được duy nhất sóng I.

2.3. BEAP nhạy cảm với u dây VIII (trong khi bệnh nhân chưa bị giảm thính lực), nhưng các u khác ở góc cầu tiểu não lại ít ảnh hưởng lên BEAP, đây là hạn chế của nó trong ứng dụng lâm sàng. Tuy nhiên, BEAP có thể ứng dụng theo dõi liên tục trong khi đang mổ u góc cầu tiểu não, nhằm kịp thời phát hiện các biến chứng có thể có, giúp phẩu thuật viên điều chỉnh lại trong cuộc mổ.

2.4. Đối với bệnh xơ rải rác, nếu trên lâm sàng thấy ổ tổn thương nằm ngoài thân não, nhưng BEAP lại bất thường, chứng tỏ đã có ổ tổn thương thứ 2 ở thân não mà lâm sàng không phát hiện được.

2.5. Trong đột quỵ tổn thương thân não, các kết quả của BEAP không thống nhất với nhau, đôi khi BEAP vẫn bình thường trên bệnh nhân có hội chứng hành tủy bên.

3. ĐIỆN THẾ GỢI THỊ GIÁC VEP                           

VEPs là những sóng điện của não, ghi được khi có kích thích ánh sáng. Thường có 2 sóng: N75 và P100. Các VEPs quan trọng nhất là P100 phản ánh tính toàn vẹn của đường dẫn truyền thị giác, từ võng mạc cho tới võ não vùng chẩm.

* Ứng dụng:

3.1. Trong bệnh lý của thần kinh thị trước giao thoa, VEPs tỏ ra nhạy cảm hơn cả MRI. Phương pháp ghi VEPs giúp khảo sát đường thị giác từ dây II, qua giao thoa đẩy thị giác tới thể gối ngoài và phóng chiếu tới thể gối khe cựa, cho tới võ não thị giác, nhưng chỉ định chủ yếu là cho tổn thương trước giao thoa.

3.2. VEPs có thể bất thường trong bệnh xơ rải rác và mù võ não, người ta còn thấy VEPs bất thường trong bệnh glaucoma, Parkinson. Nếu lâm sàng và MRI cho thấy có tổn thương tủy sống và VEP bất thường (dù MRI không thấy bất thường của dây II và bệnh nhân cũng không than bị giảm thị lực) thì phải nghi ngờ bệnh nhân bị xơ rải rác hoặc bệnh Devic.

3.3.  còn dùng VEP để đo thị lực trẻ nhỏ.

4.  ĐIỆN THẾ GỢI VẬN ĐỘNG- MEP         

Điện thế gợi vận động là những điện thế ghi nhận được ở bắp cơ, dây thần kinh ngoại vi hoặc tủy sống khi kích thích võ não hoặc bó tháp trong hệ thần kinh trung ương.

* Ứng dụng:

4.1. Giúp chẩn đoán tổn thương bó tháp, bệnh neuron vận động như xơ cột bên teo cơ, bệnh lý rễ, đám rối, xơ rải rác

4.2. MEP giúp phân biệt liệt do căn nguyên tâm lý

4.3. MEP giúp tiên lượng trong đột quỵ: nếu 3-4 ngày sau tai biến mà mất hoàn toàn đáp ứng thì khả năng hồi phục rất xấu, ngược lại nếu biên độ MEP bình thường thì tiên lượng hồi phục rất tốt. Cũng như SSEP, người ta còn dùng MEP để theo dõi trong khi đang phẫu thuật thần kinh.

 5. ĐIỆN THẾ GỢI CỦA TRÍ TUỆ P300 (cognitive evoked potentials p300)

Thời gian tiềm của P300 được coi như chỉ số đo lường tốc độ quyết định hành động và đây là tốc độ của trí tuệ (speed of cognitive processing, theo Kutas et al., 1997). Trong khi đó biên độ của P300 phản ánh số lượng các neuron não tham gia vào quá trình quyết định hành động (Wickens et al ., 1983). Do vậy P300 phản ánh chức năng trí tuệ của não (cognitive brain functions). Người ta cho rằng càng thông minh thì càng quyết định nhanh hơn, và do vậy P300 càng có thời gian tiềm ngắn hơn. Thời gian tiềm của P300 sẽ bị kéo dài theo độ tuổi càng về già thì thời gian tiềm càng dài ra. Thời gian tiềm cũng bị kéo dài trong các bệnh lý gây tổn thương neuron não và thoái hóa não. Vì vậy P300 đặc biệt hay dùng trong nghiên cứu về Alzheimer và các bệnh sa sút trí tuệ khác. P300 còn dùng trong nghiên cứu bệnh tâm thần phân liệt, trầm cảm, ám ảnh cưỡng bức (obsessive-compulsive), mất tập trung chú ý và cả động kinh trẻ em

6. CÁC ỨNG DỤNG CHÍNH CỦA CÁC ĐIỆN THẾ GỢI- Eps

6.1. Phát hiện tổn thương trong bệnh xơ rải rác (MS): một khi trên lâm sàng chỉ thấy có một ổ tổn thương, nhưng các Eps cho thấy có tổn thương ở chỗ khác nữa, thì ta cần nghi bệnh MS. Dù MRI rất hữu hiệu cho chẩn đoán MS, nhưng nhiều tác giả vẫn nhấn mạnh tới vai trò của Eps trong chẩn đoán MS. Các Eps phản ánh tình trạng chức năng chứ không phản ánh tính toàn vẹn về giải phẫu của đường dẫn truyền hướng tâm trong hệ thần kinh trung ương.

6.2. Phát hiện các tổn thương khác của hệ thần kinh trung ương: Eps bất thường thấy trong một số bệnh lý thoái hóa tiểu não tủy sống (spinocerebellar degenerations), liệt cứng 2 chi dưới gia đình (familial spastic paraplegia), bệnh Lyme, giang mai thần kinh, thiếu vitamin E và B12. SSEP và MEP bất thường trong đột quị, MEP bất thường trong xơ cột bên teo cơ. Thường EP cho phép phát hiện tổn thương đường dẫn truyền chứ không cho phép định khu chính xác

6.3. Đánh giá độ nặng và tiên lượng hồi phục của các tổn thương hệ thần kinh trung ương: Trong các tình huống hôn mê sau chấn thương sọ não, do đột quị, sau mất oxy não…nếu không ghi được SSEPs từ võ não của cả 2 bán cầu thì hiếm khi bệnh nhân có thể hồi phục ý thức. nhưng nếu ghi được 1 bên hay cả 2 bên thì tiên lượng sẽ khá hơn. Người ta cũng dùng Eps để xem có chết não hay không.

6.4. Theo dõi trong phẫu thuật (intraoperative monitoring- IOM): ứng dụng để theo dõi tình trạng toàn vẹn chức năng của 1 số cấu trúc thần kinh nhất định trong khi đang phẫu thuật, nhằm sớm phát hiện bất thường để sửa đổi trong lúc mổ, hạn chế tối thiểu những tổn thương do phẩu thuật gây ra.

6.5. Khảo sát thị lực và thính lực: dùng VEP và BEAP để đánh giá thị lưc ở những bệnh nhân không hợp tác (trẻ nhỏ, người rối loạn tâm thần…)

 BS. BÙI THU TRANG
Chuyên khoa Nội Thần Kinh – BV Hoàn Mỹ Sài Gòn

Tài liệu tham khảo

Chẩn đoán điện và bệnh lý thần kinh cơ. PGS TS Nguyễn Hữu Công, Nhà xuất bản y học. 1998; 88-95