Công Ty Cổ Phần Bệnh Viện Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn

Địa chỉ: 60-60A Phan Xích Long, Phường 1, Q.Phú Nhuận, tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam.

ĐT: (028) 3990 2468 E: contactus.saigon@hoanmy.com

Cập nhật Hướng dẫn mới điều trị nhiễm nấm ở phổi | Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn
Nội Tổng hợp

Cập nhật Hướng dẫn mới điều trị nhiễm nấm ở phổi

01-03-2011

Hội bệnh lồng ngực Hoa kỳ (ATS) vừa đưa ra hướng dẫn mới về nhiễm nấm ở phổi thay thế cho hướng dẫn năm 1988, do có nhiều chứng cứ mới và nhiều thuốc chống nấm hơn trước kia. Hướng dẫn này đăng trên American Journal of Respiratory and Critical Care Medicine số đầu năm 2011.

Thuốc chống vi nấm tòan thân

- Amphotericin B, flucytosine và vài thuốc nhóm azole như itraconazol và fluconazol, là những thuốc chính trong điều trị vi nấm truyền thống. Tuy nhiên, bây giờ dược điều trị gồm một dàn thuốc triazol mới và mạnh như ketoconazol, itraconazol, fluconazol, voriconazol và posaconazol, những polyenes và những thuốc thuốc chống nấm mới gồm echinocandins (caspofungin, micafungin và anidulafungin) tác dụng bằng cách ức chế sự thành lập vách tế vào nấm. Những thuốc đại diện mới của nhóm polyenes gồm amphotericin B deoxycholate; amphotericin B liposomal liên hệ với lipid ít độc hại cho thận hơn, và amphotericin B phức hợp lipid.
- Hướng dẫn điều trị nhắm vào 3 khu vực:
+ Nhiễm nấm tại địa phương (endemic mycoses) như bệnh nấm histoplasma, sporotrichum, blastomyces coccidioid.
+ Nhiễm nấm tăng tỷ lệ lưu hành ở người suy yếu hệ miễn nhiễm và bệnh nguy kịch (nhiễm nấm cryptococcosis, aspergillus, candida và viêm phổi pneumocystis)
+ Nhiễm nấm hiếm gặp và mới xuất hiện.

1. Bệnh nấm địa phương (endemic mycoses):

- Bệnh nấm từ nhẹ đến vừa phải histoplasma, sporotrichum và blastomyces có thể điều trị với ITRACONAZOL. Tuy nhiên, thuốc chống nấm không cần thiết cho phần lớn bệnh nhân hệ miển nhiễm còn tốt với viêm phổi do coccidiodomycosis và không có yếu tố nguy cơ lan tràn, mặc dầu triazol được khuyên dùng cho tất cả bệnh nhân nhiễm lan tràn.
- Nhiễm trầm trọng histoplasma, sporothichum và blastomyces phải được điều trị bước đầu với AMPHOTERICIN B tiếp theo nếu cần với thuốc AZOL.
- Tùy theo mức nghiêm trọng của aspergillosis, chọn lựa điều trị gồm prednisone, voriconazol IV, liposomal amphotericin B hay itraconazol.
- Catheter đặt ở tĩnh mạch trung ương phải được lấy ra, và khám mắt phải thực hiện ở bệnh nhân nhiễm nấm candida. Thuốc chỉ định điều trị gồm fluconazol, amphotericin B, echinocandin, voriconazol, hay kết hợp fluconazol và amphotericin B.
- Nhiễm nấm candida và Aspergillus phổ thông ở môi trường trại chăm sóc tích cực (ICU). Lời khuyên đặc biệt là tổ chức cụ thể và sẵn sàng ứng dụng vào thực hành.

2. Nhiễm nấm ở người suy yếu hệ miễn nhiễm:

- Bệnh nhân suy yếu hệ miển nhiễm và bệnh nhân nhiễm HIV phải nhận thuốc phòng ngừa viêm phổi do Pneumocystis.

- Uống trimethoprim và sulfamethoxazol, uống primaquin + clindamycin, hay uống atovaquone được khuyên dùng cho viêm phổi do Pneumocystis nhẹ đến trung bình, trong khi bệnh nhân suy yếu hệ miễn nhiễm viêm phổi từ trung bình đến trầm trọng phải điều trị với trimethoprim và sulfamethoxazol và có thể thêm prednisone.

3. Nhiễm nấm hiếm và mới xuất hiện:

- Để điều trị nhiễm nấm hiếm hay mới xuất hiện như zygomycose, hyalohyphomycose, phaeohyphomycose và Trichospiron, bảng hướng dẫn khuyên giảm những thuốc đàn áp hệ miển nhiễm, điều trị với những thuốc tăng cường hệ miển nhiễm, và kiểm sóat những bệnh nằm phía dưới. Mô họai tử, nang hay apxe phải được lóc bỏ và thuốc chống nấm đặc biệt phải được dùng tại chỗ, tòan thân hay tưới rửa lên vết thương.
- Với zygomycose, thuốc khuyên dùng là amphotericin B, với fusariosis amphotericin B liên hệ với lipid, voriconazol hay posaconazol, với scedosporiosis voriconazol và với phaeohyphomycose itraconazol,voriconazol hay posaconazol. Với nhiễm Trichosporon và Paecilomyces, triazol phổ rộng có thể hữu hiệu.

Nhóm làm việc nhiễm nấm của Hội bệnh lồng ngực Hoa Kỳ đang dự định phát triển một nhận định trong tương lai chỉ nêu chi tiết chẩn đóan dùng kỹ thuật mới như huyết thanh học, thử nghiệm antigen, khuếch đại nucelic acid và nhận dạng miễn nhiễm.

DS. LÊ VĂN NHÂN
Theo Yduocngaynay/BVLX