Công Ty Cổ Phần Bệnh Viện Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn

Địa chỉ: 60-60A Phan Xích Long, Phường 1, Q.Phú Nhuận, tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam.

ĐT: (028) 3990 2468 E: contactus.saigon@hoanmy.com

Biểu hiện ngoài da của một số bệnh lý đường tiêu hoá | Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Biểu hiện ngoài da của một số bệnh lý đường tiêu hoá

23-07-2012

Da và đường tiêu hóa có thể đồng thời mắc bệnh do cùng một tác nhân gây ra, có thể là những bệnh hệ thống có biểu hiện ban đầu ở da hoặc các bệnh ngoài da có liên quan đến đường tiêu hóa và gan cùng lúc. Việc chẩn đoán chính xác các trường hợp này đòi hỏi khả năng của bác sĩ có thể nhận ra các biểu hiện ngoài da.

Necrolytic acral erythema là một bệnh hiếm gặp có liên quan chặt chẽ với bệnh viêm gan. Nguyên nhân chính xác của bệnh không rõ nhưng được cho là liên quan đến rối loạn biến dưỡng chất kẽm, có thể xảy ra do sự thay đổi chuyển hóa gây ra bởi virus viêm gan C.

Giãn mạch xuất huyết di truyền (Osler-Weber-Rendu syndrome) là một rối loạn di truyền nhiễm sắc thể tính trội biểu hiện bởi nhiều vị trí giãn mao mạch ở da và niêm mạc miệng (mũi tên). Khoảng 85% - 90% bệnh nhân Osler-Weber-Rendu syndrome bị chảy máu cam tái hồi. Tình trạng giãn mạch xuất huyết có thể xảy ra ở phổi, gan, mắt, não và đường tiêu hóa.   

Viêm da đầu chi ruột (Acrodermatitis enteropathica) là bệnh‎ thiếu kẽm mắc phải hay di truyền với biểu hiện là những mụn mủ, bóng nước, đóng vẩy, phân bố ở các đầu chi và quanh các lỗ thiên nhiên. Nếu là bệnh di truyền, acrodermatitis enteropathica xảy ra do sự đột biến gen lặn nhiễm sắc thể  SLC39A4 có vai trò mã hóa sự vận chuyển chất kẽm trong ruột. Ở trẻ em, thiếu chất kẽm có thể do bú sữa mẹ không đủ hàm lượng kẽm. Ở người lớn,  thiếu kẽm có thể xảy ra do nghiện rượu, ruột kém hấp thu,  bệnh viêm ruột kích thích hay sau giải phẫu đường tiêu hóa. Đa số bệnh nhân bị tiêu chảy.

Bệnh da nhiễm bạch cầu đa nhân sốt cấp tính (hội chứng Sweet) là một quá trình phản ứng đặc trưng bởi sự khởi phát đột ngột của các nốt và sẩn mềm màu đỏ tím kết hợp lại thành mảng khu trú ở mặt bên của bàn tay. Các mảng sang thương thường xuất hiện ở chi trên, mặt, cổ, kèm theo sốt và nhiễm bạch cầu đa nhân trung tính trong máu ngoại vi. Tiêm chủng hoặc nhiễm trùng đường tiêu hóa có thể xảy ra trước khi  sang thương ngoài da bùng phát. Các bệnh đường tiêu hoá có liên quan nhiều nhất là bệnh Crohn và viêm loét đại tràng.

Vết  loét aphthe điển hình ở niêm mạc miệng thường nhỏ, tròn hay bầu dục, bờ vòng cung với quầng viêm đỏ, đáy màu vàng hoặc xám. Bệnh có diễn tiến tự thuyên giảm và có thể ảnh hưởng đến ít nhất 20% dân số. Loét aphthe thường phổ biến ở những người bị bệnh Crohn, bệnh Celiac. Bệnh cũng có thể là biểu hiện của tình trạng thiếu chất sắt, folate, vitamin B12.

Gai đen (Acanthosis nigricans – mũi tên) là bệnh có biểu hiện da dày sừng và tăng sắc tố,  xảy ra chủ yếu ở các nếp gấp của da như nách, bẹn, sau gáy. Có thể xuất hiện nhiều gai thịt ở nách. Nguyên nhân sinh bệnh của acanthosis nigricans vẫn chưa xác định rõ nhưng bệnh có liên quan nhiều nhất đến sự đề kháng Insuline hay bệnh lý ác tính trong ổ bụng.

Các bệnh ác tính thường kết hợp với acanthosis nigricans ung thư tuyến (85% trường hợp) trong đó ung thư dạ dày chiếm tỉ lệ 60%.   

Viêm da dạng herpes là một bệnh da phồng rộp mãn tính, ngứa dữ dội, biểu hiện đặc trưng bởi các chùm mụn nước, sẩn và mày đay đối xứng, xuất hiện ở khuỷu tay, đầu gối, da đầu và mông. Sinh thiết sang thương cho thấy có sự tẩm nhuận đặc biệt của bạch cầu đa nhân trung tính. Miễn dịch huỳnh quang trực tiếp xác định sự lắng đọng của globulin miễn dịch A (IgA) ở nơi tiếp giáp bì – thượng bì. Hầu hết các bệnh nhân bị viêm da dạng herpes có bệnh lý ruột nhạy cảm với gluten không triệu chứng hoặc bệnh lý tuyến giáp nhưng ít phổ biến hơn.

Ban xuất huyết Henoch-Schonlein là bệnh viêm mạch máu hệ thống phổ biến nhất ở trẻ em. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh bao gồm ban xuất huyết sờ được và có thêm ít nhất một trong các triệu chứng: đau bụng, lắng đọng IgA, viêm khớp hay đau khớp, bệnh lý ở thận. Đau thượng vị và quanh rốn gia tăng trong bữa ăn do co thắt mạch máu ruột, thườngxuất huyết ẩn ruột hoặc ít phổ biến hơn, kết hợp với phân đen. Lồng ruột là biến chứng phải phẫu thuật phổ biến nhất. Một loạt các kỹ thuật nội soi cần thực hiện để xác định chẩn đoán viêm loét dạ dày, tá tràng và tình trạng chảy máu. ‎

Hồng ban nút là dạng viêm mô mỡ phổ biến nhất, thường có biểu hiện ban đầu là các nốt hồng ban rất đau khi sờ chạm. Mặc dù bệnh thường có liên quan nhiều nhất với viêm họng do liên cầu khuẩn nhưng hồng ban nút có thể là triệu chứng khởi phát của một bệnh hệ thống như lao, nhiễm trùng huyết hay nhiễm nấm sâu, sarcoidosis, ung thư hay viêm ruột kích thích.

Kaposi sarcoma là một dạng tăng sinh của tế bào nội mô mạch máu và các tế bào lưới lympho có liên quan đến da và nhiều cơ quan nội tạng. Lưu ý các sẩn xuất huyết màu tím đặc trưng kết tụ trong một mảng bám không đều. Các triệu chứng tiêu hóa xảy ra ở 50-80% bệnh nhân có Kaposi sarcoma ngoài da và gần như ở 100% bệnh nhân có tổn thương miệng. Nhiều vị trí của đường tiêu hóa có thể bị ảnh hưởng, thường nhất là ruột non, dạ dày và thực quản. Những tổn thương ở miệng thường ảnh hưởng đến vòm khẩu cái cứng, tiếp theo là nướu và lưỡi.    

Bệnh nhân bị hội chứng Plummer-Vinson, còn gọi là hội chứng Paterson-Brown-Kelly, có thể có biểu hiện móng tay lõm hình muỗng, mất răng sớm, môi khô nứt, teo lưỡi và viêm khóe miệng. Ba triệu chứng cổ điển của bệnh này là khó nuốt, thiếu máu thiếu sắt và viêm teo thực quản dạng mạng lưới.  

Bệnh nhân bị rối loạn chuyển hoá porphyrin (porphyria cutanea tarda) có biểu hiện da mỏng, phồng rộp da bàn tay, cánh tay hay da mặt. Rối loạn chuyển hoá porphyrin ở gan là hậu quả của sự khiếm khuyết men uroporphyrinogen decarboxylase.

Bệnh khởi phát khi bệnh nhân mắc phải các yếu tố như: nhiễm sắt, rượu, viêm gan siêu vi C, nhiễm HIV, dùng nội tiết tố estrogen (uống thuốc ngừa thai, điều trị ung thư tiền liệt tuyến) và có thể hút thuốc kết hợp gây ra sự thiếu hụt uroporphyrinogen decarboxylase ở gan. Bệnh hemochromatosis, do rối loạn quá tải chất sắt, có thể khiến bệnh nhân bị porphyria cutanea tarda.    

Bệnh Leukocytoclastic vasculitis (còn gọi là viêm mạch máu quá mẫn hay viêm tiểu mạch máu ở da) thường có liên quan với sự lưu hành cryoglobulins type II và ban xuất huyết sờ thấy ở chi dưới. Leukocytoclastic vasculitis có thể khu trú ngoài da hay biểu hiện ở nội tạng, thường nhất ở các khớp, thận, đường tiêu hoá.  Leukocytoclastic vasculitis có thể do nhiều nguyên nhân nhưng có đến 50% trường hợp là tự phát. Điều trị viêm gan siêu vi C trong trường hợp bệnh phối hợp có thể giải quyết tình trạng viêm mạch.

Lichen phẳng có biểu hiện đặc trưng  là những sẩn màu hơi tím, đa giác, bằng phẳng, thường xuất hiện ở mặt duỗi của cổ tay, thân mình, cơ quan sinh dục và niêm mạc miệng. Liken phẳng có thể xảy ra trong xơ gan đường mật tiên phát sau chủng ngừa viêm gan siêu vi B. Loét miệng liken phẳng là biểu hiện phổ biến nhất của liken phẳng ở những bệnh nhân bị viêm gan siêu vi C.

Điều trị bao gồm corticosteroids bôi tại chỗ hay chích trong sang thương, thuốc bôi điều hòa miễn dịch ​​và quang trị liệu.

Hồng ban di chuyển hoại tử (hội chứng glucagonoma) là một bệnh hiếm gặp, có biểu hiện đặc trưng là hồng ban, các mảng đóng vảy ở đầu chi và quanh các lỗ thiên nhiên. Tình trạng này xảy ra kết hợp với khối u tế bào đảo Langerhans của tuyến tụy. Các dấu hiệu liên quan bao gồm tăng đường huyết, tiêu chảy, sụt cân, viêm teo lưỡi. Hồng ban di chuyển hoại tử có liên quan với rối loạn kém hấp thu đường ruột, xơ gan, viêm tụy mãn tính, bệnh viêm ruột kích thích và khối u ác tính không phải tụy tạng.

Viêm da mủ hoại thư là một bệnh ngoài da ưa bạch cầu đa nhân trung tính đặc trưng bởi vết loét đau, có bờ lầy lụa, nham nhở và viền xung quanh màu  xám hoặc tím. Chú ý quầng hồng ban màu đỏ sáng xung quanh vết loét. Các vết loét có đáy chứa tiết dịch sợi mủ, thường xuất hiện theo chấn thương và khởi đầu là các mụn mủ hoặc nốt lở loét ly tâm. Tất cả các vùng trên cơ thể đều có thể bị tổn thương nhưng phổ biến nhất ở 2 chân. Viêm da mủ hoại thư thường xuất hiện ở khoảng 5% bệnh nhân viêm loét đại tràng và khoảng 1% bệnh Crohn.

Ung thư di căn của rốn còn được gọi là hạch Sister Mary Joseph, thường kết hợp với các bệnh ung thư của đường tiêu hóa và buồng trứng người lớn.  Các khối u di căn của rốn có nhiều điểm chung hơn khối u tiên phát và thường là loại ung thư tuyến. Chú ý nhóm các sẩn ở rốn sáng bóng, màu đỏ, giãn mạch.

Bs LÊ ĐỨC THỌ - Bệnh Viện Hoàn Mỹ Sài Gòn
Theo http://reference.medscape.com