Công Ty Cổ Phần Bệnh Viện Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn

Địa chỉ: 60-60A Phan Xích Long, Phường 1, Q.Phú Nhuận, tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam.

ĐT: (028) 3990 2468 E: contactus.saigon@hoanmy.com

Các phương pháp điều trị Phình mạch máu não | Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn
Ngoại (Tổng Hợp, Thần Kinh)

Các phương pháp điều trị Phình mạch máu não

09-01-2012

1. Phình mạch não là gì?

Phình mạch não (Aneurysm) là sự phình ra hay phồng lên của một phần thành mạch máu não tại điểm thành mạch máu bị yếu. Tại nơi túi phình hình thành thì thành mạch máu trở nên mỏng hơn và yếu hơn. Vì thành mạch quá mỏng nên dễ vỡ, máu tràn vào khoang ở xung quanh não, gọi là khoang dưới màng nhện gây nên xuất huyết khoang dưới nhện. Máu có thể tràn vào hệ thống dịch não tủy hoặc vào nhu mô não gây nên tụ máu trong não. Điều này có thể gây kích ứng, tổn thương hoặc phá hủy các tế bào não lân cận. Trong các trường hợp nghiêm trọng, tình trạng xuất huyết có thể gây tổn thương não, liệt, hôn mê hoặc thậm chí tử vong.

2. Đối tượng dễ bị bệnh

Tỷ lệ phình mạch não trung bình khoảng 5% dân số. Phình mạch não có thể xảy ra ở tất cả các lứa tuổi, vỡ phình mạch thường gặp nhất ở lứa tuổi 50-60. Nữ có tỷ lệ cao hơn nam giới.

Cho đến bây giờ cơ chế chính xác gây nên túi phình động mạch vẫn chưa được hiểu một cách cặn kẽ. Tước đây, người ta cho rằng là do khiếm khuyết bẩm sinh ở thành mạch. Bây giờ, người ta thấy rằng sự hình thành túi phình là một quá trình thoái hóa với nhiều yếu tố cấu thành, như:

-  Tuổi: tỷ lệ cao hơn khi độ tuổi tăng lên

-  Hút thuốc lá: đây là một yếu tố nguy cơ rất cao

-  Xơ vữa mạch máu: làm suy thành mạch

-  Tăng huyết áp

-  Uống nhiều rượu

-  Sử dụng chất kích thích (ma túy)

-  Chấn thương hoặc tổn thương mạch máu

-  Biến chứng từ một số loại bệnh nhiễm trùng máu

3. Triệu chứng bệnh

Một số người bị túi phình mạch não không có bất kỳ triệu chứng gì trước khi bị vỡ. Túi phình vỡ một cách đột ngột. Khoảng 30-60%  bệnh nhân có “đau đầu cảnh báo” từ nhiều ngày đến nhiều tuần trước khi vỡ túi phình, và đây được cho là triệu chứng “cảnh báo sự rò rỉ”. Tại thời điểm vỡ phình mạch, có thể gây nên các triệu chứng sau:

-  Đột ngột đau đầu dữ dội (cảm giác đau như bị dao đâm)

-  Cứng cổ

-  Buồn nôn và nôn

-  Mờ mắt và rối loạn vận ngôn

-  Tê và yếu một phần cơ thể

-  Co giật

-  Nhạy cảm với ánh sáng

-  Mất ý thức

(Bất kỳ triệu chứng nào trên đây cũng đều rất nghiêm trọng, và bệnh nhân cần được đưa vào viện cấp cứu ngay).

Khi nứt hoặc vỡ ra, các phình động mạch não có thể gây tai biến mạch não hoặc tử vong

3. Chẩn đoán túi phình mạch não ?

a. Chụp cắt lớp vi tính sọ não (CT scan)

CT scan sọ não là chỉ định hình ảnh học đầu tiên đối với bệnh nhân tự nhiên đột ngột đau đầu dữ đội. Khi túi phình vỡ, chảy máu thường xảy ra ở trong khoang dưới màng nhện gây nên xuất huyết dưới nhện. Tình trạng này được chẩn đoán tốt nhất bằng CT scan não. Vị trí máu dưới màng nhện trên CTscan có thể cung cấp thông tin hữu ích về vị trí túi phình và nguyên nhân gây khiếm khuyết thần kinh.

b. Chụp mạch não số hóa xóa nền (DSA)

Đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán phình mạch não. Chụp động mạch não là một loại X quang đặc biệt cho thấy hàng loạt hình ảnh mạch máu ở đầu và cổ. Chụp động mạch não xác định được kích thước, hình ảnh và vị trí chính xác của túi phình. Chụp động mạch não được thực hiện bằng cách luồn ống thông vào động mạch, thường ở vùng bẹn, ống thông được di chuyển qua các động mạch để đến mạch máu lớn ở trên tim, gọi là động mạch cảnh, sau đó sẽ bơm thuốc cản quang vào động mạch não. Một số lượng hình ảnh X quang sẽ được ghi lại, từ đó sẽ tạo được bản đồ mạch máu trong não.

c. Chụp CT mạch máu não (CTA)

Đây là phương pháp không xâm lấn, sử dụng công nghệ chụp cắt lớp vi tính, phác thảo các động mạch máu não. Trong khi chụp mạch não (DSA)  cho đến nay vẫn là tiêu chuẩn vàng để xác định túi phình, thì chụp CT mạch não ngày nay đang dần phổ biến hơn. CTA có thê phát hiện tới 97% các túi phình mạch não.

d. Chụp cộng hưởng từ (MRI) và chụp MR mạch máu (MRA)

- MRI là một phương pháp điện toán giúp dựng hình não trong không gian 3 chiều bằng cách sử dụng một từ trường mạnh thay vì tia X-quang để thu thập hình ảnh. MRI cho hình ảnh của não bộ và các mô mềm chi tiết hơn so với phương pháp CT, X-quang thông thường. Phương pháp kiểm tra này đôi khi được tiến hành bổ sung cho CT scan.

- MRA là một phương pháp kiểm tra không xâm lấn, sử dụng công nghệ MR, để tạo sơ đồ các động mạch trong não. Với một máy MRI chất lượng tốt, hình ảnh có độ phân giải cao của các động mạch có thể đạt được.MRA có thể phát hiện túi phình mạch não với độ nhạy 87% và độ đặc hiệu là 92%. Tuy nhiên, tiến hành MRI tốn nhiều thời gian hơn so với CT scan.

4. Lựa chọn điều trị?

- Mục tiêu tức thời của việc xử lý bệnh nhân bị vỡ phình mạch não là ngăn chặn xuất huyết lần 2, chảy máu lại có tỷ lệ tử vong là tàn tật nặng lên đến 60-80%. Nguy cơ chảy máu lại xấp xỉ 1,5% mỗi ngày, 20% vào cuối 2 tuần đầu tiên, và là 50-60% vào cuối 6 tháng.

- Lựa chọn điều trị tốt nhất tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, tùy thuộc vào vị trí, kích thước và hình dáng của túi phình. Độ tuổi và tình trạng lâm sàng của bệnh nhân cũng là yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn điều trị.

- Hiện nay trên thế giới có 2 phương pháp điều trị chính:

a. Phẫu thuật kẹp túi phình

- Phẫu thuật kẹp túi phình mạch não được thực hiện bởi Bác sĩ chuyên khoa Ngoại Thần kinh. Sau khi mở sọ ở vùng trán-thái dương (pterion), đồng thời sử dụng kính vi phẫu, phẫu thuật viên thần kinh có thể cẩn thận theo dấu các mạch máu liên quan để tìm đến túi phình bị vỡ. Một hoặc nhiều clip (kẹp) bằng kim loại ( thường làm bằng titan) sẽ được kẹp vào cổ túi phình. Chụp hình mạch náu não được thực hiện sau phẫu thuật để kiểm tra việc đóng kín túi phình và giữ lưu lượng máu não bình thường.

b. Can thiệp nội mạch hay đặt coil (dây xoắn)

Đặt coil nội mạch là một thủ thuật ít xâm lấn, và được thực hiện bởi Bác sĩ chuyên can thiệp nội mạch. Một ống thông được luồn qua động mạch đùi ở bẹn và được đưa cẩn thận lên não. Bằng cách đưa một dây xoắn (coil) vào túi phình mạch từ bên trong, làm tắc nghẽn nên máu không chảy vào túi phình, ngăn chặn việc vỡ lại.

Điều quan trọng phải hiểu rằng, phẫu thuật kẹp túi phình hoặc can thiệp nội mạch đặt coil là để ngăn chặn xuất huyết lần thứ hai. Các tổn thương do lần đầu xuất huyết vẫn không khắc phục được. Điều trị nội khoa cho bệnh nhân vẫn tiếp tục thực hiện giúp bệnh nhân hồi phục các thương tổn và ngăn ngừa các biến chứng phát sinh sau này. Điều này thường đòi hỏi sự tập trung chăm sóc đặc biệt.

5. Biến chứng của xuất huyết dưới nhện là gì?

Các biến chứng hay tác động xấu của xuất huyết dưới nhện bao gồm:

- Co thắt mạch não: Khi náu chảy từ túi phình bị vỡ, nó sẽ tiếp xúc với các mạch máu bình thường. Điều này gây kích thích, dẫn đến tình trạng co thắt mạch máu (co thắt làm hẹp lòng mạch máu). Nếu co thắt mạch nặng làm thiếu máu não, sẽ dẫn đến đột quị và thậm chí tử vong. Co thắt mạch não thường xảy ra ngày thứ 7-10 sau khi vỡ túi phình, và có thế kéo dài tới 2-3 tuần. Để ngăn chặn co thắt mạch, cần sử dụng Nimodipine trong vòng 21 ngày, bệnh nhân cần được truyền nhiều dịch và giữ huyết áp bệnh nhân cao hơn một chút.

- Não úng thủy: Máu từ túi phình vỡ vào hệ thống não thất sẽ làm tắc nghẽn sự lưu thông của dịch não tủy, dẫn đến ứ trệ dịch não tủy và gây nên não úng thủy. Hậu quả là áp lực trong sọ sẽ tăng lên và có thể dẫn đến tử vong nếu không điều trị kịp thời. Đây là một tình trạng cấp cứu, cần phải dẫn lưu não thất ra ngoài hoặc dẫn lưu não thất - ổ bụng để giải quyết. Các biến chứng khác có thể bao gồm: phù não, động kinh, mất muối não, hội chứng tăng tiết ADH bất thường (SIADH), phù phổi do thần kinh, và các bất thường về tim mạch.

6. Quá trình hồi phục là gì ?

Quá trình hồi phục sau khi vỡ túi phình là khác nhau ở các bệnh nhân. Nó phụ thuộc và mức độ tổn thương trong lần vỡ đầu tiên. Nếu bệnh nhân bị tổn thương nghiêm trọng từ đầu, thì tiên lượng thường nặng nề. Mặc khác, nếu tổn thương ban đầu có giới hạn và túi phình được điều trị thành công, thì cơ hội hồi phục sẽ cao hơn nhiều. Tuy nhiên, quá trình hồi phục có thể mất vài tháng đến cả năm hoặc hơn. Người trẻ và khỏe mạnh có khả năng hồi phục cao hơn người cao tuổi và yếu hơn.

BS. NGUYỄN THẾ TRÚC
Chuyên khoa Phẫu thuật Thần Kinh – BV Hoàn Mỹ Sài Gòn