Công Ty Cổ Phần Bệnh Viện Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn

Địa chỉ: 60-60A Phan Xích Long, Phường 1, Q.Phú Nhuận, tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam.

ĐT: (028) 3990 2468 E: contactus.saigon@hoanmy.com

Các phương pháp điều trị bệnh Suy tĩnh mạch nông 2 chi dưới mạn tính | Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn
Tim Mạch

Các phương pháp điều trị bệnh Suy tĩnh mạch nông 2 chi dưới mạn tính

12-01-2012

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO): Suy tĩnh mạch nông 2 chi dưới mạn tính là tình trạng tĩnh mạch nông dãn, chạy quanh co, thấy rõ dưới da và có dòng chảy trào ngược. 

Bệnh thường gặp ở khoảng 35% người đang làm việc và 50% người đã nghĩ hưu, phụ nữ gấp 3 lần nam giới. Tuy nhiên đa số bệnh nhân đều không biết mình có bệnh nên không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, nguyên do là những biểu hiện ban đầu rất sớm và không được quan tâm đúng mức.

I. YẾU TỐ NGUY CƠ :

- Tuổi cao: khoảng 50% người trên 50 tuổi mắc bệnh, tỉ lệ này tăng lên 70% ở tuổi 70.
- Di truyền: nguy cơ mắc bệnh tăng lên 2 lần nếu có cha hoặc mẹ mắc bệnh, tăng lên gấp 4 lần nếu cả cha và mẹ cùng mắc bệnh.
- Giới tính: nữ nhiều hơn nam 3 lần, nguyên nhân được cho là liên quan đến nhiều vấn đề như ảnh hưởng của nội tiết tố estrogen, progesterol lên thành mạch, thói quen ít hoạt động, đứng lâu, đặc biệt là thai nghén. Khi mang thai những tháng cuối, áp lực ổ bụng tăng lên cao cản trở máu tĩnh mạch về tim nên gây nên tình trạng suy dãn tĩnh mạch trước và sau sanh.
- Lối sống: thói quen ăn ít chất xơ, táo bón làm tăng áp lực ổ bụng khi rặn, ít vận động, ngồi lâu, đứng lâu làm tăng áp lực lên tĩnh mạch.
- Thể trạng: mập, béo phì cũng được cho là yếu tố nguy cơ
- Nằm bất động lâu ngày như các bệnh nhân liệt 2 chi dưới, liệt nữa người hoặc liệt tứ chi, sau phẫu thuật vùng chậu, khớp… hoặc các thuốc ngừa thai dạng uống làm tăng nguy cơ hình thành huyết khối tĩnh mạch sâu gây nên dãn tĩnh mạch nông thứ phát.

II. GIẢI PHẪU-SINH LÝ BỆNH

Hệ mạch máu gồm 3 phần: động mạch đưa máu từ tim đến các cơ quan nuôi cơ thể, mao mạch giúp trao đổi chất, tĩnh mạch dẫn máu ngược từ các cơ quan trở về tim. Trong đó hệ tĩnh mạch chi dưới gồm 3 nhóm chính:

- Tĩnh mạch sâu : tĩnh mạch chày, kheo, đùi, vận chuyển 90% lưu lượng máu tĩnh mạch 2 chân
- Tĩnh mạch nông : tĩnh mạch hiển lớn và hiển bé, chỉ vận chuyển 10% lưu lượng.
- Tĩnh mạch xuyên : vận chuyển máu từ tĩnh mạch nông vào tĩnh mạch sâu.
Trong lòng tĩnh mạch có các van một chiều giúp máu chảy từ dưới lên trên, từ nông vào sâu mà không cho máu chảy ngược lại. Khi các van này bị suy yếu, dòng máu bị trào ngược, ứ đọng ở phần thấp của chân gây nên tình trạng nặng chân, tê và phù chân, gây dãn các tĩnh mạch nông. Hàng loạt các phản ứng vi mô xảy ra làm da bị xạm, chàm hoá và loét do ứ đọng.

III. CHẨN ĐOÁN

Các triệu chứng sớm của bệnh rất mơ hồ, đôi khi người bệnh không chú ý

* Cơ năng: Nặng chân; Tê chân; Phù chân; Vọp bẻ; Nổi gân xanh ở chân
Các triệu chứng này xuất hiện về buổi chiều sau một ngày làm việc hoặc khi đứng lâu, ngồi lâu; giảm đi hay biến mất vào buổi sáng hoặc khi nằm nghĩ, kê cao chân.

* Thực thể: Bác sỹ chuyên khoa mạch máu sẽ khám đánh giá mức độ suy dãn tĩnh mạch và làm siêu âm mạch máu để giúp đánh giá chính xác tình trạng tĩnh mạch.

IV. PHÂN ĐỘ :

Có nhiều cách phân loại suy tĩnh mạch nhưng cách phân loại theo C.E.A.P ( Clinique-Etiologie-Anatomie-Physiopathologie) thường được sử dụng nhất. Tuy nhiên để thuận lợi trong chẩn đoán và điều trị chúng ta thường dựa vào yếu tố lâm sàng.
Độ 0 : Chỉ có triệu chứng cơ năng.
Độ 1 : Dãn tĩnh mạch xa, dạng lưới, sưng mắc cá chân.
Độ 2 : Phình dãn tĩnh mạch.
Độ 3 : Phù nhưng không thay đổi da.
Độ 4 : Da xạm, chàm, xơ mỡ bì.
Độ 5 : Như độ 4 kèm loét đã lành.
Độ 6 : Như độ 4 kèm loét đang tiến triển.

V. ĐIỀU TRỊ :

1. Điều trị không dùng thuốc
Thay đổi nếp sinh hoạt :
    - Hạn chế đứng lâu, ngồi lâu, nằm nghĩ kê cao chân.
    - Giảm cân, tránh béo phì.
    - Ăn nhiều chất xơ, rau quả, uống nhiều nước
    - Tránh táo bón
    - Mang vớ y khoa hoặc băng thun.
    - Đối với những bệnh nhân phải nằm bất động tại chổ lâu dài nên tập vật lí trị liệu và xem xét sử dụng thuốc kháng đông để phòng huyết khối tĩnh mạch sâu.

2. Điều trị bằng thuốc
- Sử dụng thuốc làm bền thành mạch : Daflon, Rutin, Ginkgo biloba, Venosan…
- Chích thuốc làm xơ hoá tĩnh mạch.

3. Điều trị phẫu thuật
- Laser liệu pháp.

- Phẫu thuật rút bỏ tĩnh mạch dãn, sửa van.

Đa số các tác giả khuyên rằng dãn tĩnh mạch chi dưới từ độ 2 trở lên (tức là có các tĩnh mạch dãn to, chạy quanh co dưới da) thì nên phẫu thuật. Có nhiều phương pháp phẫu thuật đã và đang được áp dụng để điều trị dãn tĩnh mạch nông chi dưới như :
    - Sửa van, lấy máu đông.
    - Cột quai tĩnh mạch hiển.
    - Rút bỏ Tĩnh mạch hiển ( phẫu thuật Stripping)
    - Lấy bỏ các tĩnh mạch dãn lớn tại chỗ (phương pháp Muller)
    - Liệu pháp can thiệp nội mạch.

VI. DỰ PHÒNG

- Tránh đứng lâu, ngồi lâu, nằm nghỉ kê cao chân.
- Chế độ ăn nhiều chất xơ, tránh táo bón.
- Tập luyện thể dục thể thao như : bơi lội, đi bộ, tập thể dục thẩm mỹ giúp máu lưu thông về tim tốt hơn.
- Khi có thai nên mang vớ y khoa để phòng ngừa.
- Giảm cân.
- Những bệnh nhân phải nằm bất động lâu ngày nên được tập vật lý trị liệu, xoa bóp chi để tránh huyết khối tĩnh mạch…

Bs. TRẦN QUỐC TUẤN - BV Hoàn Mỹ Cửu Long

Tài liệu tham khảo:
1. Atlas giải phẩu học – Nguyễn Quang Quyền.
2. Haimovici's Vascular Surgery - Enrico Ascher.
3. Vascular surgery principles and practice - Robert W Hobson I& MB.