Công Ty Cổ Phần Bệnh Viện Đa Khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn

Địa chỉ: 60-60A Phan Xích Long, Phường 1, Q.Phú Nhuận, tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam.

ĐT: (028) 3990 2468 E: contactus.saigon@hoanmy.com

Các biểu hiện ngoài da liên quan với bệnh đái tháo đường | Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn
Nội tiết

Các biểu hiện ngoài da liên quan với bệnh đái tháo đường

25-10-2012

Trong những năm gần đây, tỉ lệ mắc phải và tần suất lưu hành của bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) ngày càng gia tăng trên toàn thế giới, đặc biệt cao ở các quốc gia công nghiệp hóa. Những rối loạn về nội tiết tố insulin và sự tăng nồng độ đường huyết trong máu bệnh ĐTĐ dẫn tới những bất thường về chuyển hóa, mạch máu, thần kinh và miễn dịch. Các cơ quan có thể bị tổn thương do ĐTĐ là tim mạch, thận, hệ thống thần kinh, mắt và da. Nhiều bệnh nhân chỉ có được chẩn đoán xác định ĐTĐ khi các cơ quan nội tạng nói trên bị tổn thương.Việc nhận biết các nguy cơ có thể xảy ra sự bất thường trong biến dưỡng carbohydrate sẽ giúp chẩn đoán xác định bệnh ĐTĐ sớm và phòng ngừa các biến chứng.Những biểu hiện ở da có thể giúp phát hiện bệnh ĐTĐ trong khi bệnh ĐTĐ cũng có thể làm nặng hơn các bệnh lý ngoài da. Khoảng 30 -70% bệnh nhân ĐTĐ có những biểu hiện ngoài da trong quá trình diễn tiến mạn tính của bệnh. 

CÁC BIỂU HIỆN NGOÀI DA CÓ LIÊN QUAN VỚI ĐTĐ

1/- Bàn chân tiểu đường  (DIABETIC FOOD)

Là tình trạng bàn chân có những vết loét do hậu quả của ĐTĐ kết hợp với bệnh lý thần kinh ngoại biện (60-70%), sự thiếu máu do viêm mạch máu ngoại vi (15-20%) hay do cả 2 nguyên nhân trên. Những vị trí chịu sức ép ở bàn chân sẽ bị viêm loét, có thể gây biến chứng nhiễm trùng và hoại thư.

15-25% bệnh nhân ĐTĐ có thể bị bàn chân tiểu đường, trong đó có 70% cas phải đoạn chi.

2/- Bệnh da do ĐTĐ(DIABETIC DERMOPATHY)

Sang thương da do tiểu đường có màu hơi đỏ nâu, hình tròn, d ~ 0.5 – 1.5cm, là tình trạng dày các mạch máu ngoại biên, có sự tẩm nhuận tế bào lympho quanh thành mạch, lắng đọng sắc tố hemosiderin rải rác kèm xuất huyết. Đây là bệnh lý mạch máu nhỏ, là dấu hiệu ngoài da phổ biến nhất của ĐTĐ và thường có trên 50% bệnh nhân ĐTĐ, nam nhiều gấp 2 lần nữ. Vị trí sang thương thường xuất hiện: cẳng chân, đôi khi có ở đùi, cánh tay. Bệnh nhân ĐTĐ có sang thương da do bệnh lý mạch máu nhỏ đặc hiệu này có thể có những biến chứng bệnh lý mạch máu do ĐTĐ như: retinopathy, neuropathy, nephropathy.

3/- Hoại tử mỡ ĐTĐ:  (NECROBIOSIS LIPOIDICA) 

Hoại tử mỡ do ĐTĐ xuất hiện ở khoảng 1% bệnh nhân ĐTĐ, >70% bệnh nhân là phái nữ. Nguyên nhân sinh bệnh chưa rõ nhưng có thể do tình trạng viêm các mạch máu nhỏ trong bệnh ĐTĐ. Sang thương là  những mảng da teo lớp thượng bì, màu nâu vàng, giới hạn rõ, không đau, bề mặt có các vết loét. Bờ sang thương đỏ, nhô cao, đa số xuất hiện ở cẳng chân; 75% cas đối xứng, có thể có ở bàn chân, cánh tay, thân mình hay da đầu. Bệnh nhân ĐTĐ phụ thuộc insulin có thể có các sang thương hoại tử mỡ rất sớm, trung bình 22 tuổi. Trong khi đó, chúng xuất hiện trễ hơn ở những bệnh nhân ĐTĐ không phụ thuộc insulin hay ở những người không bị ĐTĐ, trung bình 49 tuổi.

4/- Ngứa da cẳng chân mắc phải: (ACQUIRED ICHTHYOSIFORM CHANGES OF THE SHIN)

Đây là biểu hiện da thường gặp nhất của bệnh ĐTĐ, đặc biệt xuất hiện ở 50% bệnh nhân trẻ bị ĐTĐ phụ thuộc insulin, có nguyên nhân không rõ. Có thể có sự tham gia của bênh lý mạch máu nhỏ, tổn thương dính lớp sừng, tăng glycosylation và da lão hoá nhanh.

5/- Chứng gai đen: (ACANTHOSIS NIGRICANS)

Biểu hiện bởi hiện tượng da mịn như nhung, dày và tăng sắc tố, thường xuất hiện ở bề mặt các nếp gấp như: cổ, nách, bẹn, rốn, quầng núm vú, dưới vú, cùi chỏ. Triệu chứng này rất phổ biến, đặc biệt là những cas ĐTĐ kháng insulin type A, thường gặp ở bệnh nhân người Mỹ gốc Phi, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và vùng Đông Nam Á có kèm thêm chứng béo phì, một yếu tố trong hội chứng chuyển hoá. Nguyên nhân sinh bệnh  là do tình trạng tăng insulin trong máu có thể kích hoạt insulin growth factor (IGF-1) thụ thể trên các tế bào sừng dẫn đến việc phát triển lớp thượng bì.

Chứng gai đen thường kết hợp nhiều nhất với ĐTĐ kháng insulin và một số bệnh nội tiết khác như suy tuyến giáp, suy thượng thận. Rất hiếm khi có dạng ác tính.

6/- Mụn lồi có cuống  ngoài da: (SKIN TAGS – ACROCHORDONS)

Là những u lành tính có cuống ngoài da thường thấy quanh cổ hay ở những nếp gấp lớn của người lớn tuổi, một số trường hợp các u lành tính có cuống xuất hiện kết hợp với chứng gai đen. Các nhà nghiên cứu khuyến cáo nên nghi ngờ nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ do rối loạn biến dưỡng carbohydrate ở những người xuất hiện nhiều mụn lồi có cuống ngoài da.

7/- U hạt vàng sùng phát (ERUPTIVE XANTHOMAS)

Sang thương cơ bản là những sẩn màu vàng hơi đỏ, kích thước từ 1- 4 mm ở mặt duỗi của chi, mông. Các tổn thương thường xảy ra theo đợt và có thể hợp lại thành một mảng lớn. Các nhà nghiên cứu cho rằng phát ban u vàng có thể là dấu chỉ điểm đầu tiên của bệnh ĐTĐ chưa điều trị, có tăng tricgyceride máu nặng.

8/- Da biến đổi giống xơ cứng bì: (SCLERODERMA – LIKE SKIN CHANGES)

Các biến đổi da giống xơ cứng bì là tình trạng da dầy và cứng ở mặt lưng các ngón tay (sclerodactylia) và các khớp liên đốt gần  hoặc liên đốt giữa. Triệu chứng có thể lan đến cẳng tay, cánh tay và lưng, đối xứng 2 bên, không đau. Da giống như sáp, biến đổi tương tự xơ cứng bì nhưng không đau, không có hiện tượng teo da, giãn mạch, sưng phù hay hiện tượng Raynaud.

Hiện tượng này xảy ra ở 10 – 50% bệnh nhân ĐTĐ, nam ~ nữ, thường nhất là ĐTĐ type I. Nguyên nhân sinh bệnh do các sản phẩm sau cùng của sự tăng glycosylation làm đặc quánh collagen..

9/- Phù cứng bì tiểu đường BUSCHKE:  (SCLEREDEMA DIABETICORUM OF BUSCHKE)

Da bệnh nhân ĐTĐ bị phù cứng lan tỏa và đối xứng, đôi khi có hồng ban, xuất hiện chủ yếu ở cổ, vai, lưng, có thể lan đến mặt. Da phù cứng như gỗ, không véo lên được, giảm cảm giác đau và sờ mó.   Đây là biểu hiện ngoài da hiếm gặp, thường xảy ra ở bệnh nhân ĐTĐ type II, nam, >40 tuổi, rất ít có ở bệnh nhân nữ.  Đa số bệnh nhân bắt đầu lệ thuộc insulin, điều trị thường không thành công và có nhiều biến chứng.

10/- Bóng nước tiểu đường: (BULLOSIS DIABETICORUM)

Là những bóng nước căng, d~0,5-3cm, không có quầng viêm chung quanh, thường xuất hiện ở ngón tay, bàn tay, cẳng tay, ngón chân, bàn chân, cẳng chân, hiếm khi có ở thân mình. Sang thương dạng này hiếm gặp, phát triển cấp tính và thường không ngứa, không đau, xuất hiện ở những bệnh nhân bị ĐTĐ nghiêm trọng, bệnh thần kinh tiểu đường, bệnh võng mạc tiểu đường. Những bóng nước xuất hiện tự nhiên ở các đầu chi dưới có thể là dấu hiệu đầu tiên của bệnh ĐTĐ.

11/- Bệnh KYRLE (da thủng lỗ mắc phải): (ACQUIRED PERFORATING DERMATOSES - APD)

Sang thương APD là những u hạt viêm mạn tính quanh nang lông, hình dạng giống vỏ hàu, dày sừng lõm ở giữa, rất ngứa, tập hợp thành vệt dài (hiện tượng Koebner), có màu đỏ hoặc hồng ở những bệnh nhân da trắng, tăng sắc tố ở những bệnh nhân da đen. Vị trí: thân mình,  các đầu chi, da đầu và mặt. Nguồn gốc của tổn thương APD chưa rõ, có thể do phản ứng viêm da thứ cấp với tăng urê huyết, lắng đọng acid uric hoặc chấn thương trầy sướt do gãi. APD có liên quan chặt chẽ với 5 -10% bệnh nhân ĐTĐ và suy thận mạn, thường xuất hiện muộn 10-30 năm sau chẩn đoán ĐTĐ và nhiều tháng sau lọc thận.

12/- Bệnh đỏ da: (RUBEOSIS)

3 - 59% bệnh nhân ĐTĐ có da mặt, cổ và các đầu chi luôn bị đỏ bừng, có thể do giảm sự co mạch.

13/- Da vàng cam: (CAROTENODERMA)

Xuất hiện ở những vùng da có tuyến bã nhờn hoạt động mạnh (mặt) và vùng da có lớp sừng dày (bàn tay, bàn chân). Móng tay, móng chân cũng có thể bị nhuốm màu vàng tương tự.

14/- Dày sừng nang lông:    (KERATOSIS PILARIS)

Đây là bệnh da lành tính rất phổ biến, biểu hiện bởi những sẩn dày sừng quanh các nang lông, chủ yếu ở thân mình. Dày sừng nang lông, giống bệnh da vảy cá mắc phải, xuất hiện sớm trong quá trình diễn tiến của bệnh ĐTĐ.

15/- U màu vàng bùng phát(ERUPTIVE XANTHOMAS)

Biểu hiện bởi nhiều sẩn màu vàng hoặc đỏ nâu bùng phát đột ngột khắp cơ thể, chủ yếu ở lưng bàn tay, bàn chân, cẳng chân và thân mình. Thường gặp ở bệnh nhân nam, trẻ, bị ĐTĐ type I. Sang thương là những sẩn có lớp bì tẩm nhuận các macrophages chứa đầy triglyceride, khác với dạng u vàng chứa.cholesterol ester. Đây là trường hợp các bệnh nhân ĐTĐ có tăng triglyceride trong máu.

16/- Nhiễm trùng da: (Nhiễm vi nấm, vi khuẩn)

Nhiễm trùng da có thể xảy ra cho 20 – 50% bệnh nhân ĐTĐ, đa số ở bệnh ĐTĐ type II không được kiểm soát đường huyết tốt gây bất thường vi tuần hoàn, giảm hiện tượng thực bào, suy yếu sự kết dính của bạch cầu và làm chậm hiện tượng hóa ứng động.   

A-    Nhiễm vi nấm:

Vi nấm chiếm tỉ lệ cao nhất trong các bệnh nhiễm ngoài da do ĐTĐ vì bệnh nhân bị suy yếu hàng rào bảo vệ da, phổ biến nhất là nhiễm nấm Candida và cũng thường là biểu hiện cảnh báo đầu tiên của ĐTĐ. Candida có thể gây viêm kẽ, viêm miệng, viêm móng, viêm quy đầu, viêm âm hộ - âm đạo.

Các bệnh do nhiễm vi nấm ngoài da khác của ĐTĐ thường là: nấm kẽ ngón chân, viêm quầng, viêm mô tế bào, nghiêm trọng hơn là nhiễm trùng huyết do nấm. Bệnh nhân ĐTĐ nhiễm ceton acid rất dễ có nguy cơ nhiễm vi nấm nhóm Phycomycetes (mucormycosis) gây sang thương dạng hoại tử mạch máu trung tâm, đặc biệt ở vùng hầu họng, có thể gây viêm não và hầu hết bệnh nhân đều tử vong.

B-    Nhiễm vi khuẩn:

Nhiễm khuẩn da của bệnh nhân ĐTĐ nhiều gấp 3 lần các bệnh khác, đa số do vi khuẩn Gram âm như Pseudomonas aeruginosa, đặc biệt trong loét bàn chân ĐTĐ là triệu chứng không được xem nhẹ vì bệnh nhân có thể bị đoạn chi, nhiễm trùng huyết nghiêm trọng và vi khuẩn P. aeruginosa kháng thuốc. Bệnh nhân ĐTĐ không được kiểm soát tốt cũng rất dễ bị viêm da mủ, viêm quầng, viêm mô tế bào do nhiễm Streptococcus nhóm A & B, Staphyloccus aureus kháng methicillin (MRSA).

 CÁC BIẾN CHỨNG NGOÀI DA DO ĐIỀU TRỊ ĐTĐ

Các phản ứng ngoài da gây ra do dùng thuốc kháng ĐTĐ gồm: mày đay, hồng ban đa dạng, phát ban dạng trứng cá đỏ, dạng lichen. Tolbutamide chlorpropamide có thể gây tình trạng da nhạy cảm với ánh sáng. Sulfonylureas là nhóm thuốc hạ đường huyết thường gây phản ứng dị ứng ngoài da nhất. Các thuốc nhóm Sulfonylureas thế hệ thứ 2 (glimepiride, glipizide. glyburide) ít gây tác dụng phụ ở da hơn thế hệ 1.

+ Teo mô mỡ (lipoatrophy) ở vị trí chích insulin, thường ở bụng và đùi, xảy ra 6-24 tháng sau khi bắt đầu chích thuốc. Tình trạng này xuất hiện nhiều ở trẻ em và phái nữ

+ Tăng sinh mô mỡ (lipohypertrophy) là những nốt mềm ở da giống bướu mỡ, thường xuất hiện ở 20-30% bệnh nhân ĐTĐ type I và 4% ĐTĐ type II tại vị trí thường xuyên chích insulin hàng ngày với liều cao, kim chích dùng nhiều lần và không thay đổi vị  trí chích. Việc chích insulin vào những vị trí tăng sinh mô mỡ có thể làm chậm hấp thu insulin khiến sự kiểm soát đường huyết sai lệch và bệnh nhân có những cơn hạ đường huyết không dự đoán được.

+ Dị ứng với insulin tương đối hiếm xảy ra, thường thấy ở insulin bò hơn ở insulin heo.

Insulin người được sản xuất từ công nghệ tái tổ hợp DNA ít gây phản ứng dị ứng và rối loạn mô mỡ.

Các phản ứng dị ứng ngoài da với insulin có thể là mày đay hoặc phản ứng quá mẫn chậm (bệnh huyết thanh).   

CÁC BỆNH NGOÀI DA KẾT HỢP VỚI ĐTĐ

1/- U hạt vòng lan tỏa  (DISSEMINATED GRANULOMA ANNULARE)

Bệnh nhân bị U hạt vòng lan tỏa có thể bị ĐTĐ. Trên thân mình có rất nhiều sẩn, nốt d~1-2mm, có thể tụ họp thành mảng hình vòng, tiến triển ly tâm, sạch ở giữa. U hạt vòng rất phổ biến nhưng hiếm khi lan tỏa, nguyên nhân sinh bệnh chưa rõ và sự kết hợp với ĐTĐ còn có nhiều bàn cãi.

2/- Lichen phẳng  (LICHEN PLANUS)

Theo một báo cáo, khoảng ½ bệnh nhân bị lichen phẳng có sự rối loạn biến dưỡng glucose, trong đó có ¼ bị ĐTĐ.

3/- Bạch biến  (VITILIGO)

Tỉ lệ bệnh bạch biến ở bệnh nhân ĐTĐ cao gấp 10 lần người bình thường, đặc biệt ở phái nữ bị ĐTĐ type II. Trong các bệnh nhân ĐTĐ lệ thuộc insulin, bạch biến có thể phối hợp với các tự kháng thể kháng insulin.

CÁC BỆNH DA HỖN HỢP CÓ ĐTĐ

1/- Lòng bàn tay khô tróc vẩy   (DRY SCALY PALMS)

Bệnh được báo cáo ở bệnh nhân trẻ bị ĐTĐ phụ thuộc insulin. Triệu chứng này không phải là viêm da thể tạng và kết hợp với những biến đổi da giống xơ cứng bì.

2/- Giảm và tăng tiết mồ hôi   (ANHIDROSIS & HYPERHYROSIS)

3/- Ban xuất huyết ĐTĐ  (PURPURA DIABETICORUM)

Mao mạch tăng tính dễ vỡ kết hợp với bệnh ly các mạch máu nhỏ, tiếp theo là sự thoát mạch của hồng cầu và lắng đọng chất hemosiderin trong đại thưc bào có thể dẫn đến ban xuất huyết ĐTĐ vào giai đoạn muộn của bệnh.

4/- Bệnh đỏ đau đầu chi  (ERYTHROMELALGIA)

Da của các đầu chi bị tăng nhiệt độ, nổi hồng ban và đau rát như phỏng. Bệnh có thể tự phát không rõ nguyên nhân hay thứ phát phối hợp với ĐTĐ. Đỏ đau đầu chi có thể kết hợp với bệnh ly sợi thần kinh nhỏ.

 5/- Calciphylaxis renal

Bệnh thận ĐTĐ với suy thận mạn cũng như cường phó giáp trạng thứ cấp có thể dẫn đến sự lắng đọng khu trú của muối calci ở da. Bệnh ly này thường kèm theo ban xuất huyết hình mạng lưới, hội chứng đau nghiêm trọng và hình thành sự hoại tử ở các vùng trung tâm sâu. Dự hậu rất dè dặt.

Bác sĩ LÊ ĐỨC THỌ - BV HOÀN MỸ SÀI GÒN (Tổng hợp)